Tổng kết sau khi lâm 7 chữ đầu tiên của “Tì bà hành”

Chữ gốcMấy hôm trước, Vân Trai tiên sinh có nhã ý mời các huynh đệ cùng lâm thiếp “Tì bà hành” bút tích Văn Trưng Minh, tôi cũng thấy thiếp hành thảo tú lệ mà chắc khỏe, nhìn rất ưng nên cũng có ý tham gia. Mất một ngày độc thiếp, hôm nay mới bắt đầu đối lâm thử xem ra sao, thấy khó khăn vô cùng, mới được 7 chữ mà thực quá nhiều chông gai. Nay viết ra đây một vài phân tích cá nhân, đặng cho độc giả hình dung được cái khó của thiếp này, mà những người mới tập thư pháp cũng thấy đôi phần cái sự vất vả của việc lâm thiếp.

7 chữ đầu là: Tầm Dương giang đầu dạ tống khách 潯陽江頭夜送客. Dưới đây xin nói từng chữ một, trong thiếp thế nào, mà tôi lâm ra sao.
Chữ Tầm: Kết cấu phức tạp, nhưng vì nhiều nét nên thực ra không phải quá khó để lâm theo được họ Văn. Chấm đầu tiên của bộ Thủy氵là đặt bút và có thể trắc phong phô hào. Nét ngang gập đầu tiên của chữ Tầm 尋 cũng như khá nhiều nét ngang về sau lộ phong khởi bút, việc này đối với một người đã luyện Triệu khải như tôi thì không quá xa lạ nữa. Chữ này chú ý kết hợp phương viên là về cơ bản có thể phỏng theo hình thế.
Chữ Dương: Kết cấu này đối với tôi là quá khó, tôi đã phải tạm thời bỏ đấy để luyện những chữ đằng sau. Sở dĩ khó nắm bắt với tôi vì bộ Phụ 阝và phần đằng sau có vẻ như cách khá xa, thực ra nét ngang dưới chữ Nhật đã đỡ lại toàn bộ khoảng trống đó, khiến kết cấu chữ vừa phóng khoáng vừa có sự chặt chẽ. Nét cong bên dưới rất khó theo, không có chút góc cạnh nào ở đó, hoàn toàn viên nhuận và tự nhiên, kết hợp với 3 nét phẩy, kết thể trở nên chặt chẽ, nội liễm. Khi lâm, tôi luôn làm hỏng kết thể đó, khiến chữ lỏng lẻo.
Chữ Giang: Tuy không có nhiều thứ để nói, nhưng nét liên bút không bị “hư”, mà rất “thực”, một đường đưa ngược lên rất mạnh mẽ. Rõ ràng nét của tôi yếu hơn rất nhiều, một phần vì còn run khi chưa quen kết thể chữ.
Chữ Đầu: kết cấu có nhiều điều đáng quan tâm. Phần chữ Đậu 豆 thấy rõ sự kết hợp phương viên, trường đoản, thô tế, tuy chỉ là một đường đưa bút liền mạch, nhưng không thể làm nhanh làm ẩu được. Phần chữ Hiệt頁 cũng cần kết hợp phương viên. Đặc biệt 2 nét ngang trên đầu của chữ Đậu và chữ Hiệt, lộ phong khởi bút, tạo thành hình bình hành.
Chữ Dạ: có cách viết khá đặc biệt so với chữ Dạ thông thường. Bộ đầu 亠 và bộ Nhân đứng 亻 viết liền mạch tạo thành kết cấu như một bộ Mộc 木, điều này thực ra không phải không có tiền lệ, nhưng là tiền lệ của chữ khác.Nét sổ tàng phong, nét ngang vẫn lộ phong khởi bút. Chữ Đán旦 phía sau cũng được viết thành nét phẩy và phản mác. Để đảm bảo 2 nét phẩy viết tốt, một nét cần lộ phong thu, một nét cần tàng phong thu.
Chữ Tống: Không quá khó, chữ này không có gì đặc biệt hơn các thiếp khác. Tuy vậy, Văn Trưng Minh thể hiện công phu ở sự biến hóa to nhỏ rất tinh tế, nét liên bút rất mảnh mà vẫn chắc chắn, tôi đã nhiều lần viết hỏng phần đó. Ngoài ra, bộ Xước辶 cũng cần được chú ý hơn.
Chữ Khách: Nhìn chung, trong thiếp này có vài chữ Khách, kết cấu về cơ bản là như nhau, sự biến hóa không quá nhiều, có thể tham khảo để viết, không cần cố định theo đúng chữ Khách đầu tiên này. Kết cấu chung là: bộ Miên 宀 được viết thành một nét chấm, một nét ngang gập dài, phần chữ Các 各 bên dưới viết liền mạch, khởi đầu ngắn, sát, tiếp theo là nét vòng ngược, ngay sau khi cắt nét cũ thì lập tức đốn bút xuống, nhưng hướng bút sổ thẳng hơn nét cắt ngang trước, tiếp theo là phương bút gập sang bên rồi viên bút vòng xuống, lộ phong thu bút. Về kết cấu, đảm bảo bộ Miên có thể trùm tất cả, phần chữ Các có kết cấu kéo dài. Chữ này phổ biến viết mảnh hơn các cữ trên một chút. Khi lâm chữ này, tôi vẫn tham khảo các chữ Khách khác có trong thiếp, tuy nhiên chưa nắm được tinh thần mà viết ra đầu bút.