Âm Hán Việt cổ và âm Hán đã Việt hóa

Tác giả: Vương Lực.

Giới thiệu: Vương Lực (1900-1986), tên chữ là Liễu Nhất, người huyện Bác Bạch, tỉnh Quảng Tây, là nhà ngôn ngữ học danh tiếng của Trung Quốc, một trong những người đặt nền móng cho ngôn ngữ học hiện đại Trung Quốc. Trong khoảng năm 1939 – 1940, ông sang Việt Nam làm việc và nghiên cứu tiếng Việt tại viện Viễn Đông Bác Cổ, có nghiên cứu tỉ mỉ về tiếng Hán Việt. Dưới đây là trích dịch bài nghiên cứu tiếng Hán Việt của ông, phần này là mở đầu phần khảo cứu âm Hán Việt cổ và âm Hán đã Việt hóa.

Trong bài viết, Vương Lực sử dụng phiên âm quốc tế, đôi chỗ có lẫn cách ghi âm quốc ngữ tiếng Việt để ghi chép âm đọc tiếng Việt, nay trong bản dịch nhất luật sửa thành chữ quốc ngữ để bạn đọc tiện theo dõi. Vương Lực có nhắc đến “chữ An Nam”, “chữ Việt” đều là chỉ chữ Nôm của ta vậy.

Âm Hán Việt cổ là chỉ những tự âm được du nhập một cách lẻ tẻ vào khẩu ngữ An Nam trước khi chữ Hán du nhập đồng loạt vào An Nam. Thời kì này đại khái là trước thời Trung Đường, đây là hình thức ngôn ngữ cổ xưa hơn âm Hán Việt. Âm Hán đã Việt hóa thì ngược lại hoàn toàn so với âm Hán Việt cổ, chúng được sinh ra sau khi âm Hán Việt được du nhập có hệ thống. Nhưng cả hai đều có đặc điểm chung: chúng tách rời khỏi âm Hán Việt, hòa nhập vào tiếng Việt ứng dụng thường nhật. Chúng đã bắt rễ trong tiếng Việt, hoàn toàn thay đổi bộ mặt “nhà Hán” của mình, tiếng An Nam không thể thiếu những âm này. Trừ phi thế lực chính trị Trung Quốc trở lại An Nam, nếu không thì tiếng Hán Việt sẽ ngày càng tiêu giảm; nhưng âm Hán Việt cổ và âm Hán đã Việt hóa đã hòa vào tiếng Việt, mãi mãi không bao giờ bị tiêu giảm cả. Âm Hán Việt cổ cũng giống như người Trung Quốc ở An Nam được vài chục đời, không còn ai nhận ra huyết thống dân tộc Hán nữa; âm Hán đã Việt hóa giống như con cái của người Trung Quốc kết hôn với người An Nam, trên thực tế không còn thuần túy là người Hán nữa. Tóm lại, tiếng Hán Việt là ngôn ngữ chết hoặc ngôn ngữ “bán tử”, âm Hán đã Việt hóa là ngôn ngữ sống; âm Hán Việt cổ có thể lưu truyền đến bây giờ, cũng là nhờ tính chất tương tự như âm Hán đã Việt hóa. Loại bỏ yếu tố lịch sử, thì giá trị của hai loại trên là như nhau. Chính vì tính chất tương tự, mà nhiều khi rất khó phân biệt chúng. Hơn nữa, cũng khó mà phân biệt chúng với những chữ An Nam chính gốc. Vì thế, những điều tôi trình bày ở phần này khó tránh khỏi nhiều khiên cưỡng và sai sót.

Có những chữ, theo Maspéro thì bắt nguồn từ tiếng Thái; nhưng tiếng Thái cũng có chữ bắt nguồn từ tiếng Hán; một vài chữ trong tiếng Việt rất có thể là trực tiếp đến từ tiếng Thái, nhưng gián tiếp đến từ tiếng Hán, ở đây tôi không có ý định nói rõ từng trường hợp.

Trong tiếng Hán Việt cổ, có vài hiện tượng rất lý thú, tôi xin thử lấy ba ví dụ như sau.

“Thuyết Văn[1]” nói: “鴈,鵝也Nhạn, nga dã.”(nhạn, là con ngan vậy). Thời thượng cổ, thiên nga và con ngan ngỗng bình thường đều gọi là “nhạn”. “Nhạn” và “nga” biến thanh, vận Hàn và vận Ca chuyển đổi cho nhau. Tiếng Việt có chữ “ngan”, là một loại “nga” (sách Tam Thiên Tự chú “nga” là “ngan”), chữ Việt viết bộ Điểu, âm Gian (hoặc âm An), thực ra chính là chữ鴈 cổ, chữ này nay đọc là “nhạn”. Người Trung Quốc không còn giải thích “nga” là “nhạn” nữa, nhưng người An Nam vẫn giải thích vậy.

Chữ 爲(vi) theo nghiên cứu văn tự cổ thì chính là chữ象(tượng), vậy chữ爲thượng cổ đọc như “tượng” hay là đọc như “vi”? Theo như tiếng Việt thì nên đọc âm Vi. Tiếng Việt có chữ “voi”, chính nghĩa là “tượng”. Chữ爲âm Hán Việt đọc là Vi, gần với âm Voi, có lẽ là cùng một chữ cả. Chữ Việt viết bộ Khuyển, âm Vi.

Chữ鮮(tiên) trong thiên Tân Đài sách Kinh Thi cùng vần với các chữ泚tỉ、濔di (chữ Tỉ và Di đều thuộc bộ Chi, hoặc là bộ Chỉ), vậy nó phải là chữ thuộc bộ vận Chi. Tiếng Việt có chữ Tươi, chính là nghĩa chữ này. Chữ này tuy trong âm Hán Việt đọc là Tiên, nhưng theo tôi đoán, thì trong âm Hán Việt cổ nên đọc là Tươi. Chữ vần Chi, trong tiếng Hán Việt cổ có đọc vần –ơi, ví dụ chữ移(di) đọc là Dời, thậm chí có vần –ươi, như chữ寄(ký) đọc là Gưởi[2]. Như vậy chữ鮮trong Kinh Thi xếp vào bộ Chi đã minh chứng rõ ràng.

Các âm Hán Việt cổ khác có thể không được thú vị như thế, nhưng độ tin cậy lại cao hơn hẳn 3 chữ trên. Nếu chúng ta đi quá xa, e rằng có nguy hiểm, tuy chúng ta có thể tạm đặt giả thiết cho những chữ nghi ngờ là Hán Việt cổ, nhưng những giả thiết có quá ít khả năng thì chúng ta cũng nên bỏ đi. Ví như chữ Sống, tuy cả âm và nghĩa đều gần chữ Sinh生, nhưng ta không thể giả thiết nó là âm Hán Việt cổ của chữ Sinh, một là vì thanh mẫu s là do r chuyển thành, hai là vì sự thật chứng minh nó đến từ tiếng Môn – Khơ me, không có quan hệ gì với tiếng Hán cả.

Dưới đây chúng ta hãy khảo sát tiếng Hán Việt cổ theo ba phương diện: thanh mẫu, vận mẫu, thanh điệu.

(Phần khảo âm đằng sau tương đối dài, xin phép sẽ dịch vào một dịp khác, ngoài ra có những điểm nghi vấn trong khảo âm, khi nào tìm thêm được tư liệu xin trao đổi sau.)


[1] Thuyết Văn giải tự說文解字- tác giả Hứa Thận許慎đời Hán

[2] Ghi theo Vương Lực, nay đọc là “Gửi”