Đôi điều về tự nguyên và âm đọc của chữ 德 (Đức)

Trong Tết Đinh Dậu, lúc viết chữ trong nhà Thái Học của Văn Miếu, có người hỏi tại sao chữ Đức 德 lại viết như thế? Tại sao lại có Thập, Tứ, Nhất, Tâm ghép vào nhau rồi thêm bộ Xích (nhân kép) bên cạnh? Lại nhớ sách dạy trẻ con mới in gần đây giải thích theo lối rất võ đoán vô căn cứ, bèn về thử đọc kĩ lại sách xem có tra ngược được tự nguyên và âm đọc của chữ này không.

Đầu tiên nói về phần bên phải: có phải “thập trên tứ dưới nhất đè chữ tâm” như câu vè mô tả hay không? Chắc chắn là không. Phần bên phải là chữ Trực 直 bên trên chữ Tâm 心. Nhìn chữ Khải thì khó đoán ra, nhưng nhìn chữ Tiểu Triện có thể thấy ngay.

Theo Thuyết Văn Giải Tự, phần bên phải làm thanh. Phần này cũng là chữ hình thanh: lấy Trực làm thanh, lấy Tâm làm hình, vẫn đọc như 德.

Vậy tại sao lại có thêm bộ Xích 彳? Theo Thuyết Văn, bộ Xích làm hình, ý chỉ liên quan đến chuyện đi lại. Thuyết Văn giải thích chữ Đức như sau: 德,升也。(Đức nghĩa là “thăng). Phần chú giải có nói: 升,當作登 (Thăng phải là Đăng mới đúng). Dù là Thăng hay là Đăng, cũng đều chỉ việc đi lại. Thuyết Văn cho rằng chữ Đức thông với Đăng, nên lấy theo bộ Xích.

Lại căn cứ vào phần chú của Thuyết Văn, thì Đức thông với Đắc 得. Chú giải có trích thiên Ẩn Công trong Công Dương Truyện, sách Xuân Thu 《春秋·公羊傳·隱公五年》, có cụm “Đăng lai chi”登來之 được Hà Hưu giải thích như sau: Đăng, đọc như Đắc. “Đắc lai chi” là tiếng của người Tề. Người Tề gọi việc cầu được là “đắc lai”. (登讀言得。得來之者、齊人語。齊人名求得爲得來。)

Nói riêng về Đắc 得, cũng có thể bỏ bộ Xích mà vẫn đọc là Đắc, hoặc viết phần bên phải là 㝵、䙷, Thuyết Văn nói cổ văn tỉnh lược bộ Xích đi. Cách giải thích này chắc là có lí, bởi Giáp Cốt Văn viết chữ Đắc gồm Xích + Bối 貝 (Tiểu Triện viết lộn thành Kiến 見) + Thủ (Tiểu Triện viết sang Thốn 寸), ý chỉ đi đường nhặt được đồ.

Nhưng chữ 德 có lẽ ban đầu vốn không có nghĩa gì liên quan đến Đắc. Thuyết Văn Giải Tự chú đã cố gắng giải thích bắc cầu: Đức nghĩa là Đăng, Đăng trong sách Xuân Thu được chú nghĩa là Đắc, mà Đức – Đắc đồng âm (Đa tắc thiết, nhiếp Tăng, vận Đăng, thanh nhập) nên Đức là Đắc. Cách giải thích đó có phần khiên cưỡng, mang tính suy luận quá đà. Ta có thể xét ở văn tự cổ nhất là Giáp Cốt, chữ Đức viết như sau:

Có thể thấy chữ Đức lúc bấy giờ vẽ con mắt và đường chỉ thẳng, ý nói nhìn thẳng (sau này diễn biến thành chữ Trực 直 nghĩa là “thẳng”), xung quanh vẽ bốn góc, chỉ một ngã rẽ (sau diễn biến thành những chữ chỉ sự đi lại như 彳、亍、行). Ta thấy Đức ngay ban đầu có nghĩa là “đứng ở ngã rẽ nhưng nhìn thẳng”, sau này diễn biến về ngữ nghĩa thành “phẩm chất tốt đẹp”. Bộ Xích chính là do diễn biến từ văn tự cổ hơn mà thành, ý chỉ con đường. Đến khoảng thời Chu, chữ Đức mới kèm thêm bộ Tâm bên dưới. Ban đầu chữ Đức là chữ hội ý, chứ không chắc đã là chữ hình thanh ngay. Vậy xét về cả hình và nghĩa, chữ Đức không liên quan gì đến chữ Đắc cả. Còn cách giải thích là Thăng – Đăng (Thuyết Văn và Thuyết Văn chú) chưa rõ tham khảo từ đâu.

Vấn đề về âm đọc:

Đức – Đắc vốn đồng âm, như tôi đã nói bên trên, đều thuộc nhiếp Tăng, vận Đăng, âm nhập, khai khẩu nhất đẳng, thanh mẫu Đoan. Tái lập âm theo Quảng Vận của các nhà nghiên cứu như Cao Bản Hán, Vương Lực, Lý Vinh… đều giống nhau, đều là /tək/.

Nói thêm nữa rằng, âm thượng cổ khi chưa hình thành đầy đủ thanh nhập, có lẽ Đức – Đắc – Đăng là cùng một âm. Theo quan điểm âm vận học, Đăng và Đắc chỉ khác nhau về mặt thanh điệu (Đăng thanh âm bình, Đắc thanh âm nhập), còn về mặt vần thì như nhau (đều thuộc nhiếp Tăng, vận Đăng), tất nhiên về thanh mẫu cũng đều là mẫu Đoan. Vậy thì người Tề nói “đăng lai” và “đắc lai” có thể là như nhau, nên sách chép lẫn lộn mà thôi.

(Viết nháp, chưa liệt kê tài liệu tham khảo, cũng chưa đi sâu phân tích thêm, mong quý bằng hữu lượng thứ và chỉ giáo)