Vài vấn đề về âm Hán Việt của chữ nhị đẳng khai khẩu tổ thanh mẫu Kiến

(Bài đã đăng trên tạp chí Hán Nôm số 3 năm 2014 (số 124)

Dẫn ngôn: “Âm Hán Việt” là hệ thống âm đọc chữ Hán chính thức tại Việt Nam, nó bảo lưu khá tốt những đặc điểm của tiếng Hán trung cổ. Tuy vậy, trong hệ thống âm Hán Việt cũng có nhiều hiện tượng biến đổi âm chưa được giải thích kĩ lưỡng, trong đó có hiện tượng tiền hóa âm gốc lưỡi của các chữ nhị đẳng trong tổ thanh mẫu Kiến. Bài này khảo sát âm đọc các chữ trong tổ thanh mẫu Kiến (Kiến, Khê, Quần, Nghi) thuộc nhiếp Giải, nhiếp Hiệu, nhiếp Giang trong âm Bắc Kinh, âm Phúc Châu, âm Quảng Châu (Trung Quốc) và âm Hán Việt (Việt Nam) để làm rõ vài vấn đề về biến âm.

Giới hạn thuật ngữ

Âm Hán Việt: trong bài này, thuật ngữ “âm Hán Việt” được giới hạn là âm đọc chữ Hán được du nhập một cách có hệ thống vào nước ta từ khoảng thời Đường và được công nhận là âm đọc chữ Hán chính thức hiện nay.

Âm Hán Việt cổ: âm đọc chữ Hán lẻ tẻ được du nhập vào Việt Nam từ trước khi âm Hán được du nhập một cách có hệ thống.

Tổ (tổ thanh mẫu): chỉ thanh mẫu có vị trí phát âm giống nhau được xếp vào một nhóm theo truyền thống âm vận học. Ở bài này khảo sát tổ thanh mẫu Kiến見, cụ thể là 3 thanh mẫu: Kiến見, Khê溪, Quần羣. Cả 3 đều được ghi nhận là nhóm âm gốc lưỡi trong tiếng Hán trung cổ (là thời gian Ngụy Tấn Nam Bắc Triều đến thời Đường, âm Hán Việt được xác nhận là du nhập vào nước ta trong khoảng thời kì nhà Đường). Trong âm Hán Việt, tổ này được đọc với âm gốc lưỡi, lần lượt là [k] (Kiến, Quần) và [x] (Khê), trừ những chữ nhị đẳng khai khẩu sẽ được khảo sát.

Đẳng: phạm trù “đẳng” trong âm vận học truyền thống còn nhiều tranh cãi, tạm thời được định nghĩa là: 4 đẳng lần lượt là nhất, nhị, tam, tứ, nguyên âm đi từ nhất đẳng tới tứ đẳng có xu hướng hẹp dần và dịch lên phía trước, riêng tam đẳng thì luôn có âm đệm [i].

Nhiếp: phạm trù “nhiếp” trong âm vận học là chỉ tổng hợp vài vận bộ có cách đọc gần nhau. Chữ trong một “nhiếp” có phần vần gần nhau. Trong bài khảo sát các nhiếp: Hiệu效, Giang江, Giải蟹.

1. Kết quả khảo sát

Khảo sát tiến hành trên các tài liệu sau: âm Hán Việt lấy từ Hán Việt Tự Điển của Thiều Chửu, âm đọc phương ngữ tiếng Hán căn cứ theo ghi âm của Hán Ngữ Phương Âm Tự Vị漢語方言字彙, điều kiện âm vận căn cứ theo Phương Ngôn Điều Tra Tự Biểu方言調查字表 (sách này chủ yếu dựa trên Quảng Vận廣韻).

1.1. Các chữ nhất đẳng ở nhiếp Hiệu như Cao高, Cảo稿, Khảo考 đều khai khẩu, không có âm đệm [i], cả 3 phương ngữ Trung Quốc và âm Hán Việt đều bảo lưu thanh mẫu là phụ âm gốc lưỡi. Các chữ tam, tứ đẳng ở nhiếp Hiệu như Kiều嬌, Kiều橋, Khiếu竅… đều có âm đệm [i], chỉ có âm Bắc Kinh là thanh mẫu bị biến thành âm mặt lưỡi trước[tɕ] và [tɕ’], còn lại các phương ngữ Phúc Châu, Quảng Châu và âm Hán Việt đều là âm gốc lưỡi ([h], [x], [k], [k’]).

Trong âm Bắc Kinh, các chữ nhị đẳng, tam đẳng, tứ đẳng của nhiếp Hiệu đều có thanh mẫu là âm mặt lưỡi trước [tɕ], [tɕ’], [ɕ] và có âm đệm [i]. Trong tiếng Quảng Châu, các chữ nhị đẳng có thanh mẫu là phụ âm gốc lưỡi và không có âm đệm. Trong tiếng Phúc Châu xuất hiện tình trạng chia làm “văn độc” (đọc văn bản chính thức) và “bạch độc” (khẩu ngữ) khác nhau, trong đó “văn độc” có âm [i] còn “bạch độc” thì không có, ví dụ chữ Giảo狡 (nhiếp Hiệu, khai khẩu, nhị đẳng, thướng thanh, vận Xảo, mẫu Kiến), văn độc là [kieu], bạch độc là [kau]. Còn trong tiếng Hán Việt, tất cả thanh mẫu Kiến đều biến thành [z] (kí hiệu quốc ngữ là “gi”), tất cả thanh mẫu Khê đều biến thành [s] (kí hiệu quốc ngữ là “x”). Nhưng thanh mẫu Khê chỉ có 2 chữ là Xảo巧 và Xao敲.

Ngoại lệ: riêng chữ Cảo搞, tất cả phương ngữ được khảo sát và âm Hán Việt đều không có âm đệm [i].

1.2. Nhiếp Giang chỉ có chữ nhị đẳng, trong âm Bắc Kinh, nhóm này có thanh mẫu là phụ âm mặt lưỡi trước, có âm đệm [i]; trong tiếng Quảng Châu có thanh mẫu là phụ âm gốc lưỡi không có âm đệm [i]; trong tiếng Phúc Châu thì rất ít chữ có âm đệm [i]. Chỉ có duy nhất một ngoại lệ đó là chữ餃, nhưng chữ này vốn là thanh nhập, hiện tại tất cả các phương ngữ và âm Hán Việt đều không đọc thanh nhập cho chữ này nữa, âm Hán Việt quy về nhiếp Hiệu, tình hình biến âm của chữ này khá phức tạp, tạm thời chưa bàn. Ngoài chữ đó ra, tiếng Phúc Châu không còn chữ nào có âm đệm [i]. Trong âm Hán Việt, nhóm này đều có thanh mẫu là phụ âm mặt lưỡi [s] và [z].

Ngoại lệ: chỉ có chữ Cảng港 là không có âm đệm, tiếng Bắc Kinh là [kaŋ], tiếng Phúc Châu là [køyŋ], tiếng Quảng Châu là [kɔŋ], âm Hán Việt là [kaŋ].

1.3. Chữ nhị đẳng thuộc nhiếp Giải có tình trạng giống như nhiếp Giang, thậm chí không có một ngoại lệ nào.

Tóm lại, âm đọc các chữ nhị đẳng tổ thanh mẫu Kiến trong cả 3 nhiếp Giải, Hiệu và Giang như sau: trong âm Bắc Kinh giống các chữ tam đẳng, tứ đẳng, có âm đệm [i]; trong tiếng Quảng Châu không có [i]; trong tiếng Phúc Châu bạch độc không có [i]; trong tiếng Hán Việt không có [i], nhưng thanh mẫu không còn giống với các chữ tam, tứ đẳng nữa.

2. Diễn biến ngữ âm

2.1. Xét từ góc độ phương ngữ tiếng Hán, trong âm Bắc Kinh có sự hợp nhất giữa 2 tổ thanh mẫu là Kiến見 và Tinh精, hợp nhất thành thanh mẫu mặt lưỡi trước [tɕ], [tɕ’], [ɕ]; tiếng Quảng Châu và tiếng Phúc Châu không có hiện tượng hợp nhất đó, thanh mẫu tổ Kiến vẫn giữ âm gốc lưỡi [k]、[k’]、[x]、[h]. Có thể thấy, các phương ngữ phía Nam Trung Hoa vẫn giữ thanh mẫu gốc lưỡi ở nhóm chữ mẫu Kiến nhất, tam, tứ đẳng, còn tiếng Bắc Kinh thì đã biến mất.

Về vấn đề âm đệm [i], theo kết quả khảo sát, trong tiếng Bắc Kinh, các chữ nhị, tam, tứ đẳng tổ thanh mẫu Kiến đều có âm đệm [i], thanh mẫu là âm mặt lưỡi trước. Có thể giả thiết rằng, phụ âm gốc lưỡi chịu ảnh hưởng của âm đệm [i] nên chuyển đổi thành phụ âm mặt lưỡi.

2.2. Nhưng các chữ nhị đẳng thì có chút khác biệt. Tuy rằng trong tiếng Bắc Kinh, các chữ nhị đẳng cũng có âm đệm [i], nhưng trong tiếng Quảng Châu, các chữ nhị đẳng không có âm đệm [i] (giống như nhất đẳng), còn trong tiếng Phúc Châu bạch độc không có âm [i], chỉ có văn độc mới có [i]. Thông thường, “văn độc” trong một phương ngữ được hình thành do ảnh hưởng của phương ngữ vùng khác, chứ không phải bắt nguồn từ nội tại phương ngữ đó.

2.3. Trở về với vấn đề âm Hán Việt, các chữ nhất đẳng không có âm đệm [i], các chữ tam tứ đẳng có âm đệm [i], đó là điều bình thường so với tiếng Hán trung cổ. Chữ nhị đẳng không có âm đệm [i], thoạt nhìn thì có vẻ giống tiếng Quảng Châu, nhưng vấn đề là ở thanh mẫu: từ âm gốc lưỡi, những chữ này đã chuyển thành âm mặt lưỡi [s] và [z]. Âm nguyên thủy của nó là âm gốc lưỡi, chỉ có các chữ nhị đẳng bị “tiền hóa” thành âm mặt lưỡi, vậy nên chắc chắn phải có “thứ gì đó” khiến cho vị trí phát âm bị đẩy lên phía trước (tiền hóa), “thứ gì đó” là gì, có lẽ tạm thời chỉ có thể đặt giả thiết.

3. Một số giả thiết

3.1. Ta có thể đặt một giả thiết rằng, với số lượng không nhiều chữ bị biến âm như vậy, hiện tượng này có thể do nguyên nhân xã hội, như kị húy hoặc biến âm áp đặt. Âm Hán Việt cổ vẫn giữ thanh mẫu gốc lưỡi, ví dụ: chữ Xảo巧 âm cổ là Khéo, tương tự như thế: Xao敲 – Khêu, Xoang腔 – Khoang, và âm cổ cũng không có âm đệm [i] hay âm đệm nào khác, vậy rất có thể bị biến âm do kị húy. Tuy vậy, ta có thể trực tiếp bác bỏ giả thiết trên:

Sự biến đổi này là có hệ thống trên số lượng lớn các âm nhị đẳng, chứ không phải sự biến đổi lẻ tẻ trên một vài chữ.

Nếu do một nguyên nhân chính trị – xã hội nào đó mà bị biến âm, thì không thể đồng thời biến đổi gần như toàn bộ âm đọc của các chữ có điều kiện ngữ âm như nhau (tổ Kiến, nhị đẳng, khai khẩu).

3.2. Một giả thiết của Nguyễn Tài Cẩn cho rằng, những chữ nhị đẳng thanh mẫu Kiến có thanh mẫu bị biến đổi thành âm mặt lưỡi [s] và [z] là do nguyên âm chính bị hợp nhất. Chữ nhất đẳng có nguyên âm chính là âm a rộng [ɑ], chữ nhị đẳng là âm a hẹp [a], khi 2 âm này bị hợp nhất, để khu biệt với âm a rộng ở chữ nhất đẳng, người ta phải thêm một âm đệm [j] vào sau phụ âm, vì ảnh hưởng của âm đệm [j] nên phụ âm gốc lưỡi bị tiền hóa. Còn những chữ tam đẳng, tứ đẳng có âm đệm [i] (yếu hơn, ngắn hơn âm đệm [j]) thì được lưu lại âm đệm đến ngày nay. Mô hình biến đổi giả thiết của thanh mẫu Khê sang thanh mẫu [s] như ngày nay là như sau:

*k’ > kj’ > tɕ’i > tɕ’ > s

Vấn đề là, liệu có thể xảy ra trường hợp biến đổi từ “không có âm đệm” sang thẳng “có âm đệm mạnh [j]” ngay mà không trải qua giai đoạn âm đệm yếu (như [i] hoặc yếu hơn nữa) hay không? Đó là vấn đề có thể đặt ra cho giả thiết này.

Theo kết quả mô phỏng âm cổ trong Hán tự cổ kim âm biểu của Trần Chấn Hoa, Chu Trường Tập, các chữ nhị đẳng khai khẩu này trong tiếng Hán thượng cổ có âm đệm ngắn [e] và âm chính [a], đến tiếng Hán trung cổ thì không còn âm đệm, âm chính hậu hóa thành [ɔ]. Nếu công nhận âm Hán Việt được du nhập có hệ thống vào Việt Nam, và công nhận kết quả phỏng âm của Âm biểu, thì không thể có chuyện biến đổi *[a] > [ja]. Tất nhiên, kết quả phỏng âm của Âm biểu vẫn còn tranh cãi, hơn nữa ta không chắc Âm biểu phỏng âm theo tiếng Hán trung cổ thuộc vùng nào, cũng không thể chắc chắn âm Hán trung cổ được truyền vào Việt Nam là hệ thống âm thuộc vùng nào của Trung Quốc (những học giả như Maspéro cho rằng là âm Trường An, nhưng giả thiết này chưa chắc đã xác đáng).

3.3. Theo Ngữ âm tiếng Việt của Đoàn Thiện Thuật, âm đệm [i] vẫn còn dấu tích trong chính tả quốc ngữ ngày nay. Hiện nay trong tiếng Việt (tiếng Hà Nội), “d” và “gi” đọc như nhau (đều đã thành âm mặt lưỡi trước), nhưng được kí hiệu khác nhau trong chính tả là do trước đây, 2 âm này tách biệt. Trong âm Hán Việt, nguồn gốc 2 âm này khác nhau: phụ âm “d” chủ yếu bắt nguồn từ thanh mẫu Dương, còn “gi” chủ yếu từ tổ Kiến, khai khẩu, nhị đẳng như chúng tôi đã khảo sát bên trên. Kí hiệu “gi” là để ghi lại âm đệm [i] trước đây vẫn còn dùng, và một phụ âm trọc (hữu thanh) là “g”. Nguyễn Tài Cẩn xếp phụ âm “d” vào nhóm âm đầu lưỡi, phụ âm “gi” vào nhóm âm mặt lưỡi. Tuy vậy, thứ nhất, đây là chuyện từ sau thế kỉ XVII, còn trước đó âm đệm này có hay không, nếu có thì là âm đệm gì, không thể căn cứ vào chính tả quốc ngữ để kết luận; thứ hai, các chữ tam, tứ đẳng cũng có âm đệm [i] đứng sau âm gốc lưỡi và không bị biến đổi.

3.4. Chúng tôi ở đây đặt ra thêm một giả thiết nữa, đó là âm Hán Việt khi du nhập vào Việt Nam đã có một âm đệm ngắn ở âm đọc các chữ nhị đẳng khai khẩu này. Vị trí phát âm của âm đệm này phải ở phía trước so với âm gốc lưỡi, thì mới có thể kéo âm gốc lưỡi biến đổi thành âm mặt lưỡi. Âm đệm này phải đủ ngắn để dễ dàng biến mất trong âm Hán Việt cũng như trong các phương ngữ Phúc Châu, Quảng Châu, nhưng cũng có thể kéo dài thành âm đệm [i] như trong tiếng Bắc Kinh. Chúng tôi giả thiết âm đệm đó là âm [ɪ] ngắn. Thậm chí có thể đến thế kỉ XVII, chữ quốc ngữ dùng chữ cái [i] để ghi âm đệm đó, chứ không phải thực sự ghi cho âm đệm dài hơn là [i]. Hệ thống chữ quốc ngữ vốn không phải là hệ thống ghi âm thật chặt chẽ, nên việc này là dễ hiểu.

Kết luận

Sự biến đổi về âm đọc của những chữ khai khẩu nhị đẳng thanh mẫu tổ Kiến trong âm Hán Việt là quá trình biến âm tự nhiên do ảnh hưởng của điều kiện ngữ âm nội tại. Cụ thể hơn, việc biến đổi từ thanh mẫu gốc lưỡi thành thanh mẫu mặt lưỡi là do ảnh hưởng của nguyên âm đứng đằng sau. Giả thiết là có một âm đệm ngắn [ɪ], âm đệm này dễ bị biến mất nhưng cũng kéo theo sự biến đổi của thanh mẫu đứng trước nó, khiến thanh mẫu bị tiền hóa. Âm đệm này đã có từ tiếng Hán trung cổ, bị biến mất ở các phương ngữ miền nam Trung Hoa, bị kéo dài ở các phương ngữ miền bắc như âm Bắc Kinh trong quá trình hợp nhất tổ thanh mẫu Tinh và Kiến, đồng thời được bảo lưu ở âm Hán Việt tới giai đoạn sau thế kì XVII sau đó mới biến mất, kéo theo sự biến đổi của thanh mẫu.

Tài liệu tham khảo

  1. Sở Nghiên cứu Ngôn ngữ, viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, Phương ngôn điều tra tự biểu, Thương Vụ Ấn Thư Quán, Trung Quốc, 2007.
  2. Trần Chấn Hoa, Chu Trường Tập, Hán tự cổ kim âm biểu, Trung Hoa thư cục, Trung Quốc, 1993.
  3. Bộ môn Giảng dạy ngôn ngữ, khoa Ngôn ngữ Văn học Trung Quốc, Đại học Bắc Kinh, Hán ngữ phương âm tự vị, Nhà xuất bản Cải cách Văn học, Trung Quốc, 1989.
  4. Vương Lực, Hán ngữ ngữ âm sử, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội Trung Quốc, Trung Quốc, 1985.
  5. Đinh Thanh Thụ, Cổ kim tự âm đối chiếu thủ sách, Trung Hoa thư cục, Trung Quốc, 1981.
  6. Đoàn Thiện Thuật, Ngữ âm tiếng Việt, Nhà xuất bản ĐHQG Hà Nội, Việt Nam, 2004.
  7. Nguyễn Tài Cẩn, Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt, Nhà xuất bản ĐHQG Hà Nội, Việt Nam, 2004.
  8. Thiều Chửu, Hán Việt tự điển, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, 2009.

Phụ lục

Phụ lục 1: Bảng âm đọc các chữ nhiếp Hiệu tổ Kiến khai khẩu

Chữ Hán Đẳng Điệu Vận Thanh mẫu Bắc Kinh Phúc Châu Quảng Châu Hán Việt
nhất bình kiến kau kou kau
nhất bình kiến kau kou kau
nhất bình kiến kau kou kau
nhất bình kiến kau kou kau
稿 nhất thướng kiến kau kou kau
nhất khứ kiến kau kou kau
nhất thướng khê k’au k’ɔ hau xau
nhất thướng khê k’au k’ɔ hau xau
nhất khứ khê k’au k’ɔ k’au xau
tam bình kiến tɕiau kieu kiu kieu
轿 tam khứ quần tɕiau kieu kiu kieu
tam bình quần tɕ’iau kieu/kyɔ k’iu kieu
tam bình quần tɕ’iau kieu k’iu kieu
翘翘尾巴 tam khứ khê tɕ’iau k’ieu hiu kieu
nhị thướng kiến tɕiau kieu/ka kau zau
nhị thướng kiến tɕiau kieu/kau kau zau
nhị thướng kiến tɕiau kieu/ka kau zau
教教育 nhị khứ kiến tɕiau kau kau zau
nhị khứ kiến tɕiau/ɕiau xau hau zieu
nhị khứ kiến tɕiau kau/ka kau zau
nhị khứ kiến tɕiau kau kau zau
nhị khứ kiến tɕiau kau kauʔ zak
nhị bình khê tɕ’iau k’ieu/k’a hau sau
nhị thướng khê tɕ’iau kieu hau sau
nhị thướng kiến kau kou kau
tứ bình kiến tɕiau xieu hiu kieu
tứ thướng kiến tɕiau kieu kiu kieu
tứ khứ kiến tɕiau kieu kiu xieu
tứ khứ khê tɕ’iau k’ieu k’iu/hiu xieu

 

Phụ lục 2: Bảng âm đọc các chữ nhiếp Giang, Giải, tổ Kiến khai khẩu

Chữ Hán Đẳng Điệu Vận Thanh mẫu Bắc Kinh Phúc Châu Quảng Châu Hán Việt
nhị thướng kiến kaŋ køyŋ kɔŋ kaŋ
nhị bình kiến tɕiaŋ Kouŋ/køyŋ kɔŋ zaŋ
nhị thướng kiến tɕiaŋ Kouŋ kɔŋ zaŋ
nhị bình khê tɕ’iaŋ k’yɔŋ/k’øyŋ hɔŋ suaŋ
nhị nhập kiến tɕiau kauʔ/kœyʔ kɔk zak
nhị nhập kiến tɕiau Kieu kau zau
nhị nhập kiến tɕye/tɕiau kauʔ/kœyʔ kɔk zak
nhị nhập khê tɕ’ye k’auʔ k’ɔk sak
nhị nhập khê tɕ’ye/k’ɣ k’œyʔ hɔk sak
nhị bình kiến tɕie kai kai zai
nhị bình kiến tɕie kai/kie kai zai
nhị bình kiến tɕie kai zai/ȵai
解解开 nhị thướng kiến tɕie kai/kɛ kai zai
nhị khứ kiến tɕie kai kai zəi
nhị khứ kiến tɕie kai kai zəi
nhị khứ kiến tɕie kai kai zəi
nhị khứ kiến tɕie/kai kai kai zəi
nhị khứ kiến tɕie kai kai zəi
nhất bình kiến Kai kai kɔi kai
nhất thướng kiến Kai kai/kuei kɔi kai
nhất khứ kiến Kai kai kɔi xai
nhất khứ kiến Kai kai kɔi kai
nhất bình khê k’ai k’ai/k’uei hɔi xai
nhất khứ khê k’ai k’ai k’ɔi xai
nhị thướng khê k’ai k’ai k’ai xai
nhị bình kiến tɕia ka kai zai