Về âm Hán Việt của chữ倩

Chữ倩 nghĩa là “đẹp” (tạm không bàn đến ngữ nghĩa của chữ), tiếng phổ thông đọc là qiàn, là một chữ không có trong số những chữ Hán – âm Hán thường dùng của tiếng Việt, vì thế, chuyện âm Hán Việt không thống nhất cũng là điều có thể lí giải.

Hiện tại tôi ghi nhận có 3 âm Hán Việt được dùng: Thiến, Thiện và Sảnh. Tạm liệt kê ra các cách phiên thiết của các “vận thư” khác nhau, cũng thấy được lờ mờ nguồn gốc của 3 âm Hán Việt trên:

Theo Thuyết Văn Giải Tự (Hán) quyển 8, bộ Nhân (bản Trần Xương Trị đời Thanh) ghi chép phiên thiết của chữ này là Thương Kiến Thiết 倉見切, nếu lấy vần của Kiến (nhiếp Sơn, khai khẩu, tứ đẳng, khứ thanh), thì sẽ suy ra âm đọc là Thiến.

Nhưng theo Quảng Vận (Tống), Vận Hội, Chính Vận, chữ này được phiên thiết là Thương Điền (Điện) Thiết 倉甸切, chữ 甸 có vài âm đọc, Quảng Vận, Tập Vận, Vận Hội và Thuyết Văn đều ghi phiên thiết Đường Luyện Thiết 堂練切, Quảng Vận chú rõ là âm Điện 音電 (đọc là Điện). Chữ này đọc như các chữ 電, chữ 殿 và chữ 墊 (Đường Luyện Thiết, nhiếp Sơn, khai khẩu, tứ đẳng, khứ thanh). Vậy nếu theo Quảng Vận thì chữ 倩 có phần vần giống ĐiệnTuy nhiên phải nói thêm rằng, chữ thứ nhất trong phiên thiết (Thương) là thanh âm bình, vì vậy thanh điệu của chữ 倩 cũng là âm chứ không phải dương, nên đọc là Thiến.

Chính Vận, Tập Vận, Vận Hội lại có ghi thêm âm Thất Chính Thiết七正切, theo phiên thiết này thì chữ倩 có âm rất gần với phần thanh bàng là Thanh青 (đều là nhiếp Cảnh). Nếu phần vần của chữ đọc như Chính, thì tức không còn là nhiếp Sơn nữa, mà chuyển sang nhiếp Cảnh, khai khẩu, tam đẳng, khứ thanh. Âm Hán Việt là Sảnh rất gần phiên thiết này. Tuy nhiên nếu theo cách đọc tiếng phổ thông hiện nay là qiàn, thì âm Sảnh không ổn cho lắm. Nhiếp Cảnh hiện nay tiếng phổ thông đọc thành 2 âm là ingeng, không có ian. Trước đó không rõ ngữ âm Bắc Kinh còn cách đọc nào khác qiàn không, nhưng sau khi nhà nước Trung Quốc thống nhất hệ thống âm đọc tiếng phổ thông thì chỉ còn âm đọc đó mà thôi.

Thuyết Văn và Quảng Vận, Vận Hội, Chính Vận ghi âm đọc gần giống nhau.  Mà Chính Vận, Vận Hội, Tập Vận lại ghi thêm phiên thiết khác, lấy vận là Chính. Là do đời sau đã đọc khác đi, hay do tác giả ghi âm đọc của địa phương, tôi không được rõ cho lắm. Nguồn gốc vận thư cũng là một vấn đề rất to lớn, đến nay ngành âm vận học chưa giải quyết thấu đáo cho được.

Cứ theo Thiều Chửu, chữ này đọc là Thiến. Có lẽ Thiều Chửu lấy theo Thuyết Văn Giải Tự, các vận thư như Quảng Vận, Tập Vận đều ra đời sau, lấy theo Thuyết Văn là lấy theo âm xa nhất vậy. Bản dịch Liêu Trai Chí Dị cũng có đọc là Thiến Nữ, tuy nhiên có bản dịch sửa thành Sảnh. Mà âm Thiện thì hoàn toàn không suy ra được từ các vận thư đời trước. Sau này dịch phim ảnh gần như nhất loạt lấy âm Thiện. Có lẽ vì âm Thiến không được nhã, nên dịch giả lấy âm khác để thay.

_________________________________

Tham khảo:

Khang Hy tự điển
Thuyết Văn Giải Tự
Hán Việt tự điển (Thiều Chửu)

Có sửa chữa ngày 14-6-2013