Về một hiện tượng chệch âm trong âm Hán Việt

Âm Hán Việt là cách đọc chữ Hán của người Việt, ở đây không xét đến âm Hán Việt cổ và âm đã bị Việt Hóa, mà chỉ xem xét âm Hán Việt thông dụng. Âm Hán Việt thông dụng hiện nay, theo Maspéro thì là được du nhập một cách có hệ thống từ âm Trường An đời Đường vào tiếng Việt.

“Đọc chệch âm” nghĩa là một âm Hán Việt được đọc chệch đi so với âm gốc, và cách đọc chệch ấy được công nhận là âm Hán Việt thông dụng hiện nay (theo từ điển của các vị Thiều Chửu, Đào Duy Anh và theo cách đọc các từ Hán Việt thông dụng hàng ngày).

Vậy làm thế nào để biết âm gốc? Ta có thể căn cứ vào phiên thiết từ các sách âm vận của Trung Hoa cổ để suy luận ra âm gốc. Ở đây tôi căn cứ theo Bảng chữ Hán chuyên dụng trong điều tra tiếng địa phương 方言调查字表 của Sở Nghiên cứu Ngôn ngữ thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc soạn. Bảng chữ này không ghi phiên thiết, mà dựa chủ yếu vào cách chú âm của Quảng Vận và Tập Vận (thanh mẫu xếp theo hệ (nhóm), vận mẫu chú theo nhiếp, vận, đẳng, hô, thanh).

Hiện tượng tôi muốn khảo sát trong bài này là hiện tượng biến âm từ [i] sang [ɨ](ư) và [ə:](ơ):

Xét riêng các chữ thuộc chỉ nhiếp, thanh mẫu thuộc nhóm Tinh精 (Tinh精, Thanh清, Tòng從, Tâm心, Tà邪 – [t] và [th]), nhóm Kiến (Kiến見, Khê溪, Quần群 – [k] và [x]) có rất nhiều chữ đọc vận mẫu [ɨ](ư):

雌-thư, 此-thử, 紫-tử, 賜-tứ, 資-tư

Trong cùng một bộ Tâm, cùng chỉ nhiếp khai khẩu tam đẳng, chi vận lại có những chữ đọc “ư”, có những chữ vẫn đọc “i”: 斯-tư, 四-tứ, 璽-tỉ (ngọc tỉ), 徙-tỉ (di chuyển).

Những chữ trong nhóm Kiến thì đọc “ơ”: 幾-cơ, 基-cơ, 肌-cơ, 饑-cơ. Riêng chữ幾 có thêm âm “kỉ”. Âm “cơ” và âm “kỉ” đều thuộc chỉ nhiếp khai khẩu tam đẳng, vi vận, chỉ khác thanh điệu.

Trong những chữ thuộc chỉ nhiếp, nhóm Tinh và nhóm Kiến, có ít chữ đọc vận mẫu “i”, và đều thuộc thượng thanh (tỉ姊, kĩ技…). Nếu có chữ không thuộc thượng thanh, thì cho dù âm Hán Việt thông dụng đọc “i” chăng nữa, vận “i” đó cũng không được bảo toàn nguyên vẹn:

  • 司: đọc là “ty” (công ty), nhưng vẫn có âm Hán Việt là “tư” (VD họ Tư Mã, Tư Không, Tư Khấu, hay Tư Lệnh).
  • 丝: đọc là “ty”, nhưng người Việt Nam vẫn đọc một âm khác của chữ này là “tơ” (sợi tơ, tơ tằm là chữ này mà ra, không phải là âm thuần Việt).

Giả thuyết: âm gốc là “i”, nhưng “i” là một nguyên âm trước, còn bộ âm [t], [th] (nhóm Tinh) là âm đầu lưỡi giữa, và bộ âm [k], [x] (nhóm Kiến) thì là bộ âm gốc lưỡi, như vậy tạo thành một sự đối nghịch giữa “âm trước” (front) và “phi-âm trước” (non-front), khi đó nguyên âm trước [i] bị đẩy vào trong, biến thành [ɨ](ư) và [ə:](ơ).

Trong âm Bắc Kinh thì có hiện tượng ngược lại: nhóm Kiến giữ nguyên nguyên âm trước [i], biến đổi bộ âm gốc lưỡi [k] và [x] thành âm mặt lưỡi [tɕ] và [tɕh].

Hiện tượng âm Hán Việt sai khác so với phiên thiết cổ không chỉ riêng trường hợp “i” và “ư”, “ơ” như trên, mà còn có những trường hợp khác như “b” và “t”, tuy nhiên do nguyên nhân khác nhau nên không thể quy gộp vào cùng một hiện tượng. Các hiện tượng biến âm khác tôi xin trình bày vào lần sau.

* Bài đăng trên blog chỉ có giá trị tham khảo và trong quá trình hoàn thiện, xin phép không chia sẻ bản đầy đủ lên đây, đồng thời cũng không có chú thích và không liệt kê tài liệu tham khảo.