Về vài tên riêng trong Thủy Hử

Nhân dịp đang chiếu phim Thủy Hử bộ mới, nghĩ có vài cái tên riêng có chút “vấn đề” nho nhỏ, tự nhiên nghĩ ra nên post lên đây.

Thác Tháp Thiên Vương Tiều Cái

Thác Tháp Thiên Vương Tiều Cái

Tiều Cái là người “sáng lập” ra đội ngũ Lương Sơn Bạc ban đầu (Lương Sơn trước đó thuộc về Vương Luân, sau bị Lâm Xung giết, tôn Tiều Cái lên làm chủ). Sau này Tiều Cái bị mai phục bắn chết tại Tăng Đầu Thị, Tống Giang mới lên thay. Vấn đề là, họ “Tiều” của Tiều Cái! Độc giả Việt Nam quen thuộc với tên Tiều Cái, từ bản dịch của ông Á Nam Trần Tuấn Khải, nhưng không hiểu vì sao ông Á Nam lại đọc chữ đó là… Tiều!

Chữ đó viết là 晁, tra Khang Hi Tự Điển, thì có ghi: Quảng Vận chú âm là Trực Dao Thiết直遙切, Tập Vận và Chính Vận chú âm là Trì Dao Thiết馳遙切, nói rõ là đọc như chữ Triều 潮. Theo các phiên thiết trên, thì thanh mẫu của chữ này thuộc về hệ Tri Trang Chương, nên đọc là /tr/ hoặc /ch/ hoặc bất quá thì là /th/. Nếu đã chú rõ đọc như chữ Triều, thì nên đọc là Triều, chứ không phải Tiều. Vậy chữ Tiều ở đâu ra? Rất tiếc, ông Á Nam đã khuất núi, không thể hỏi được nữa.

Tuy vậy, sự lẫn lộn /t/ với /tr/ trong âm Hán Việt không phải là không có. Ví dụ chữ 截 nên đọc là Tiệt (theo đúng hệ thống âm vận), nhưng cũng nhiều chỗ đọc là Triệt.

Một vũ tiễn Trương Thanh

Trương Thanh là một tướng trẻ tuổi hào hoa của Lương Sơn, sử dụng Xuất Bạch Lê Hoa Thương, nhưng vũ khí nổi tiếng nhất là Phi Hoàng Thạch (phi hoàng = châu chấu bay). Phi Hoàng Thạch thực chất là các viên đá nhỏ, Trương Thanh có tài ném đá bách phát bách trúng, nên được gọi là Một vũ tiễn. Vậy “một vũ tiễn” là gì?

Ở Trung Quốc, không thống nhất cách đọc chữ “một” 没 trong biệt hiệu của Trương Thanh, nên đọc là /méi/ hay là /mò/?

Có người đọc là /méi/ tức là “không có”, giải thích rằng “một vũ tiễn”没羽箭 là “mũi tên không có lông đuôi đằng sau”, ý chỉ những viên đá của Trương Thanh, lợi hại không kém cung tên; hoặc ý chỉ Trương Thanh thân thủ nhanh nhẹn như tên bắn.

Có người đọc là /mò/, tức là “mất”. Ở đây gắn liền với điển tích Lí Quảng bắn hổ. Sử Kí Tư Mã Thiên chép, Phi tướng quân Lí Quảng đi săn, nhìn thấy tảng đá giống hình hổ, nhất thời hoa mắt, liền giương cung bắn, mũi tên ngập cả vào tảng đá. Sáng hôm sau Lí Quảng ra thử bắn lại, thì không sao bắn mạnh được thế nữa. Lô Luân thời Đường có thơ rằng: “Bình minh tầm bạch vũ, một tại thạch lăng trung” (Sáng sớm tìm mũi tên lông trắng, thì thấy ngập cả vào trong tảng đá). “Một vũ tiễn” ý nói lực bắn rất mạnh, lông đuôi tên cũng ngập trong tảng đá.

Có người bảo đọc /méi/ không được, vì quá hiện đại, người xưa nếu nói “không có” thì không dùng chữ “một”没 mà dùng chữ “vô”无. Điều này cũng chưa chắc đúng, biệt danh của các anh hùng Lương Sơn thường khá dân dã, không hẳn lúc nào cũng có điển tích điển cố rõ ràng./

Lãng Tử Yến Thanh

Chữ 燕 thường có hai âm đọc: yến (tiếng phổ thông: yàn) và yên (tiếng phổ thông: yān). “Yến” là con chim yến (cũng có một vài ý nghĩa khác trong văn cổ); Yên là tên riêng, ví dụ như Yên Kinh (tức là khoảng Bắc Kinh ngày nay), nước Yên thời Xuân Thu Chiến Quốc cũng dùng chữ này. Vậy Yến Thanh là “Yến” hay là “Yên”? Tra cứu mãi, không thấy có họ “Yến”, chỉ thấy có họ “Yên” mà thôi.

Mà hai âm này ý nghĩa khác nhau, không thể lẫn lộn. Giả sử như Vũ với Võ, Tùng với Tòng, thì chẳng qua là biến âm, ta quen gọi là Võ Tòng thì không thể đổi là Vũ Tùng được nữa, nhưng cũng không lấy gì làm sai cả. Còn Yến với Yên thì lại là chuyện khác.

Chắc lại phải hỏi ông Á Nam vậy!

Tuy nhiên, nghe kĩ trong phim thì rõ ràng vẫn đọc thanh khứ (thanh 4 tiếng phổ thông), tức là tương ứng với âm Yến ./