Chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa duy lý

Ghi chép cuộc nói chuyện giữa nhà ngôn ngữ học Pháp Mitsou Ronat với Noam Chomsky, trích từ chương 4 cuốn sách “Ngôn Ngữ và Trách Nhiệm” (Language and Responsibility – Noam Chomsky). Dịch theo bản tiếng Trung, tham khảo nguyên bản tiếng Anh tại Chomsky.info. Bản dịch tiếng Trung có hơi lẫn lộn giữa các khái niệm “mental”, “idea” và “mind”, những khái niệm trên lần lượt được tôi dịch lại từ nguyên văn tiếng Anh là “trí não”, “tư tưởng” và “tư duy”, có thể cách dịch chưa thỏa đáng lắm, mong các bạn góp ý.

RONAT: Trong rất nhiều trường hợp, ông từng phê bình chủ nghĩa kinh nghiệm (empiricism) trong triết học và trong khoa học, ông có thể mô tả tỉ mỉ hơn về ý kiến phê bình của mình?

CHOMSKY: Ở một ý nghĩa nào đó, chủ nghĩa kinh nghiệm đã phát triển thành một dạng thân tâm nhị nguyên luận (mind-body dualism) khó chấp nhận, trong khi ngày xưa chính nó đã phản đối nhị nguyên luận ở một góc độ khác. Trong mô hình nghiên cứu của chủ nghĩa kinh nghiệm, người ta nghiên cứu cơ thể người như một bộ môn khoa học tự nhiên, cho rằng cơ thể được cấu thành từ những cơ quan khác nhau có chức năng đặc thù, những cơ quan này rất phức tạp, đặc tính cơ bản của chúng được quyết định bởi di truyền, họ cho rằng phương thức tác động lẫn nhau của các cơ quan này cũng được quyết định bởi những quy luật sinh học của cơ thể người. Mặt khác, chủ nghĩa kinh nghiệm cho rằng đại não là một tờ giấy trắng, trống trơn, không có kết cấu và thống nhất, ít nhất thì cấu trúc tri nhận là như thế. Tôi cho rằng không có bất cứ lí do gì để tin vào những quan điểm trên; không có lí do gì để tin rằng cấu tạo của ngón tay út phức tạp hơn cấu tạo của phần não bộ phụ trách năng lực trí não cấp cao cả. Ngược lại, năng lực trí não có thể là kết cấu phức tạp nhất trong vũ trụ. Không thể tin rằng năng lực trí não cao cấp không hề có liên hệ với kết cấu phức tạp kia[1] theo cách nào đó.

Có thể có người nói, nhị nguyên luận do chủ nghĩa kinh nghiệm đề ra chỉ là phương pháp luận, không phải bản chất. Tức là cho rằng làm như vậy là đương nhiên, nghiên cứu cơ thể người thì sử dụng những phương pháp khoa học phổ thông, còn nghiên cứu tư duy thì có chút thành kiến, khiến cho việc nghiên cứu tư duy tách rời khỏi lĩnh vực nghiên cứu khoa học. Trên thực tế, chủ nghĩa giáo điều đó gần đây càng được nhiều người chú ý. Ví như ông Hume đã thực sự nỗ lực để chứng minh những nguyên tắc cơ bản về vấn đề con người tiếp thu tri thức là đủ để giải quyết những hiện tượng quan trọng, đồng thời thách thức các đối thủ của ông nêu ra những “tư tưởng” hợp lí mà ấn tượng cảm giác không thể sản sinh ra, theo nguyên tắc của ông. Quá trình nghiên cứu của ông có những chỗ mơ hồ, vì một bộ phận những nghiên cứu ấy có vẻ như thuộc về một dạng nghiên cứu khoa học, cố gắng chứng minh một số nguyên tắc do ông nêu ra có thể giải thích được vài hiện tượng quan trọng, nhưng ở một vài chỗ khác, ông lại dựa vào những nguyên tắc ấy để chứng minh một khái niệm nào đó là “không hợp lí”, vì những nguyên tắc ấy không thể suy ra những khái niệm đó – suy luận đó là dựa trên việc chúng ta công nhận những nguyên tắc không hợp lí về bản chất tư duy loài người của Hume. Hume coi nguyên tắc suy luận của phương pháp quy nạp (inductive reasoning) như một dạng “bản năng động vật”, quan điểm này có vẻ như giả thiết của chủ nghĩa kinh nghiệm. Trong phiên bản hiện đại của lí thuyết Hume, giả thiết của ông đã trở thành một giả định giáo điều, mà không hề có sự nỗ lực thực sự để chứng minh rằng nó chính xác và để trả lời những lời phê bình dành cho các nguyên tắc trên.

Ngày nay chúng ta không có lí do để tin rằng nguyên tắc của Hume hay những học thuyết tương tự như thế là đủ để giải thích tư tưởng, tri thức và niềm tin của chúng ta; cũng không có lí do gì để cho rằng nguyên tắc Hume có ý nghĩa đặc biệt nào đó. Nếu nói về chức năng trí não cao cấp, không có chỗ cho những tiền học thuyết liên quan đến sự phức tạp và tính thống nhất của não bộ. Chúng ta buộc phải điều tra nghiên cứu tất cả các loại cấu trúc tri nhận do loài người xác lập nên trong quá trình phát triển của mình, cùng với quan hệ giữa chúng (các cấu trúc tri nhận – LHH) với môi trường vật lý và môi trường xã hội, cố gắng hết sức mình để xác định những nguyên tắc chi phối cấu trúc tri nhận. Khi chúng ta đã có được sự hiểu biết về bản chất của hệ thống này, chúng ta có thể nghiên cứu một cách hợp lí cơ sở cho những gì hệ thống này mang lại. Tôi cho rằng, những hiểu biết hạn chế của chúng ta về các vấn đề này cho thấy, tư duy, cũng như cơ thể người, thực chất là một hệ thống các cơ quan, chúng ta có thể loại suy mà gọi đó là “cơ quan trí não” – cũng có nghĩa là, chúng là một hệ thống cụ thể tổ chức theo một chương trình di truyền, chương trình này quyết định chức năng, cấu trúc, quá trình phát triển của chúng một cách cụ thể; việc thực hiện cụ thể những nguyên tắc trên phụ thuộc vào sự tương tác giữa hệ thống với môi trường, như trường hợp của hệ thống thị giác… Nếu quan điểm trên là chính xác, thì trí não là một hệ thống phức tạp được cấu thành từ các cơ quan tương tác lẫn nhau (nguyên văn: interacting faculties), các cơ quan này không được phát triển bằng nguyên tắc thống nhất của “trí tuệ phổ thông” (general intelligence), trí não được cấu thành từ các “cơ quan trí não” chuyên trách và riêng biệt giống như các cơ quan trên cơ thể người.

RONAT: Và do đó, không nghi ngờ gì, ông nhấn mạnh lý luận ngữ pháp tự chủ là dựa trên thực tế rằng, cấu trúc ngữ pháp không hề phụ thuộc vào các hệ thống nhận thức khác. Liệu có thể nào dựa trên mô hình tương tự để ông suy nghĩ về ngôn ngữ và cấu trúc của tri thức?

CHOMSKY: Tôi không phản đối việc so sánh, nhưng tôi tự hỏi rằng liệu chúng ta có thể tìm hiểu nhiều điều hay không khi đi theo đường hướng này. Cần lưu ý rằng trong nghiên cứu sinh lí học, không ai đồng ý với những đề nghị kiểu này; không ai cho rằng chúng ta phải nghiên cứu cấu trúc của mắt và tim, sau đó tìm ra sự tương đồng của chúng. Người ta không trông đợi có thể tìm được những sự tương đồng nào có ý nghĩa. Nếu tư duy bao gồm một hệ thống của những “cơ quan trí não” tương tác với nhau, cấu trúc của các cơ quan này khác nhau về cơ bản, thì chúng ta cũng không mong chờ sẽ phát hiện được nhiều điểm tương đồng giữa chúng.

Nói rõ ràng hơn, tôi không muốn những điều này trở thành một thứ giáo điều mới để thay thế cho các học thuyết kinh nghiệm chủ nghĩa. Ngược lại, cũng giống như nghiên cứu cơ thể người, chúng ta đơn giản là phải giữ tư tưởng cởi mở về vấn đề này. Chúng ta biết không nhiều về hệ thống nhận thức, mà ngôn ngữ là một ví dụ thú vị nhất vào lúc này. Những hiểu biết có hạn ấy dường như giúp tôi đưa ra được những kết luận trước đây. Điều quan trọng tất nhiên là xác định các nguyên tắc sâu hơn và những cấu trúc cụ thể của các hệ thống nhận thức khác nhau, phương thức tác động qua lại lẫn nhau của chúng, và những điều kiện bình thường mà các hệ thống phải đáp ứng. Nếu ai đó tìm ra rằng các hệ thống này có được một cách thống nhất với những hệ thống có rất ít đặc trưng, thì thực là rất tốt. Nhưng hiện tại ít nhất đối với tôi thì có một kết luận hoàn toàn khác biệt. Đó chính là ý tôi nói lúc nãy rằng không thể trông chờ tìm ra được nhiều điểm tương đồng.

RONAT: Và cũng không thể hi vọng về hiện tượng phụ thuộc lẫn nhau. Tuy nhiên, một số nhà tâm lý học khẳng định rằng nhận thức có tác động đến tiềm cấu trúc của câu. Một khía cạnh quan trọng trong phê phán của ông đối với chủ nghĩa kinh nghiệm là giả thiết duy lí: cấu trúc não bộ là do mã di truyền bẩm sinh quyết định, não bộ được lập trình để phân tích kinh nghiệm và xây dựng kiến thức ngoài kinh nghiệm, điều này có vẻ gây sốc…

CHOMSKY: Tôi không thấy có điều gì gây sốc trong mệnh đề đó cả. Trong sinh lý học, không ai chấp nhận bất cứ thứ giáo điều gì liên quan đến tư duy giống như chủ nghĩa kinh nghiệm. Không ai cảm thấy kì quặc để hỏi câu hỏi như: vì sao thông tin di truyền chứng minh được chuyện người ta có tay thay vì có đôi cánh? Vì sao lại cảm thấy sốc trước những câu hỏi tương tự liên quan đến đại não và trí óc? Chúng ta lại trở lại với phương pháp luận nhị nguyên của chủ nghĩa kinh nghiệm rồi.

RONAT: Phương pháp đó không phù hợp với “khoa học nhân văn” đương đại.

CHOMSKY: Đặc biệt là với tâm lý học hành vi luận, hoặc thậm chí là với lý thuyết của Piaget, tuy rằng quan điểm của ông ta trong một số vấn đề là không rõ ràng lắm. Piaget coi mình là một người phản đối kinh nghiệm chủ nghĩa; nhưng một số bài viết của ông lại cho tôi thấy rằng ông đã mắc sai lầm trong kết luận. Piaget phát triển một dạng “cấu trúc tương tác luận” (constructive interactionism): kiến thức mới được xây dựng thông qua sự tương tác với môi trường. Nhưng một câu hỏi cơ bản đã bị né tránh: những kiến thức này được xây dựng như thế nào, và tại sao chỉ có loại kiến thức này mà không phải các loại khác? Theo như tôi hiểu thì Piaget chưa hề đưa ra một câu trả lời rõ ràng nào. Câu trả lời duy nhất mà tôi có thể hình dung là giả định tồn tại một cấu trúc di truyền bẩm sinh quyết định quá trình trưởng thành. Nếu ông coi câu trả lời đó là sai lầm, thì ông lại rơi vào một thứ đại loại như chủ nghĩa kinh nghiệm mà ông phản đối. Theo tôi, những giả định ông đưa ra là không đủ để chứng minh quá trình phát triển cụ thể của nhận thức.

Điều đó không phải để phủ nhận tầm quan trọng rất lớn của những nghiên cứu được tiến hành bởi Piaget và tổ làm việc của ông tại Geneva; nó đã mở ra những quan điểm hoàn toàn mới trong việc nghiên cứu tri thức của con người. Nhưng tôi rất nghi ngờ cách giải thích các kết quả nghiên cứu ấy, đặc biệt là thái độ của họ đối với cái mà Piaget gọi là “innéisme” (chủ nghĩa thiên phú) theo tôi là sai lầm hoàn toàn.

Trong triết học, ví như trong vài tác phẩm của Quine, có tồn tại những vấn đề tương tự. Đôi khi, ông khẳng định các lý thuyết được phát triển bởi phương pháp quy nạp, thứ phương pháp mà ông gắn liền với điều kiện (conditioning). Nhưng có lúc ông lại nói ngược lại: lý thuyết không chỉ là do điều kiện hay quy nạp, mà còn liên quan đến những giả thiết trừu tượng được quyết định bởi những khả năng bẩm sinh. Trong những năm gần đây, ông đã dao động giữa hai kết luận đó.

(Còn tiếp)


[1] Tức não bộ – LHH