Sơ lược về phạm trù và nguyên dạng

Phạm trù hóa (categorization) là một  thao tác cơ bản nhất của tư duy, nếu không có sự phạm trù hóa, tư duy của chúng ta chỉ là một tập hợp những thành phần riêng lẻ, hỗn độn, không quy luật, không liên hệ.

Theo quan điểm truyền thống, phạm trù (category) là một tập hợp (set) được hình thành căn cứ vào những đặc tính chung của các thành viên. Nếu chỉ căn cứ vào đặc tính của các thành viên để định nghĩa phạm trù, thì:

  • Trong một tập hợp, không có thành viên nào là mẫu điển hình của tập hợp đó.
  • Phạm trù không phụ thuộc vào đặc tính của chủ thể tiến hành thao tác phạm trù hóa, nói cách khác, không liên quan đến tâm lí, hoạt động, năng lực quan sát, năng lực tư duy hình tượng, năng lực học tập, ghi nhớ… của con người.

Trên thực tế, từ hàng ngàn năm nay, nhân loại gần như “mặc định” về định nghĩa đó, thậm chí không cần tiến hành miêu tả trong sách giáo khoa, vì nó gần như là tiên đề cho hoạt động khoa học, bao gồm ngôn ngữ học. Ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu – theo như F.Saussure nói. Một kí hiệu (symbol) chỉ có nghĩa khi nó tương ứng với một thực thể trong thế giới khách quan (hoặc thế giới tưởng tượng). Quan hệ giữa kí hiệu và thực thể (symbol-to-object) không liên quan đến đặc điểm tư duy của người sử dụng kí hiệu. Quan hệ giữa kí hiệu và phạm trù (symbol-to-category) cũng là quan hệ khách quan. Như vậy, phạm trù chắc chắn là một thứ khách quan, nằm ngoài đặc điểm tư duy chủ quan của con người.

Trong khi đó, khoa học tri nhận lại nhìn nhận phạm trù được xây dựng từ kinh nghiệm và cơ chế tưởng tượng (bao gồm các thao tác ẩn dụ, hoán dụ, liên tưởng), trong đó cơ chế tưởng tượng là cơ chế dùng để lí giải kinh nghiệm.

Ta hãy xem các thí nghiệm về màu tiêu điểm (focal colours) dưới đây:

Thí nghiệm đơn giản của Brent Berlin và Paul Kay:

Berlin và Kay sử dụng hệ thống màu Munsell để tiến hành thí nghiệm. Bảng màu Munsell bao gồm 40 sắc độ, đánh số theo chiều ngang từ 1-40, mỗi sắc độ lại chia làm 8 độ sáng khác nhau, đánh dấu từ a-h theo chiều dọc, ngoài ra có thêm màu trắng, đen và 7 màu xám,t ổng cộng 329 thẻ màu.

Hệ thống màu Munsell

Berlin và Kay chọn ra những người nói những thứ tiếng khác nhau (20 thứ tiếng) tiến hành thí nghiệm phân loại màu sắc như sau:

Bước 1: Chỉ ra những màu sắc cơ bản, (1) được biểu thị bằng một từ của tiếng mẹ đẻ của người tham gia thí nghiệm (ví dụ không bao gồm từ greenish-blue trong tiếng Anh); (2) là màu sắc được sử dụng rộng rãi (ví dụ không phải từ blond (vàng kim) trong tiếng Anh); (3) màu sắc đó phải do một từ quen thuộc với đại đa số người sử dụng ngôn ngữ đó biểu thị, những từ ngữ đó phải rất dễ dàng hiện ra trong não người nói (ví dụ không bao gồm những từ như vermilion, magenta, indigo). Sau bước này, Berlin và Kay đã chọn ra được những từ ngữ chỉ màu cơ bản (basic colour terms) của các ngôn ngữ khác nhau.

Bước 2: Đưa ra bảng màu Munsell, yêu cầu những người thí nghiệm chỉ ra:

Một thẻ màu mà trong bất cứ điều kiện nào đều được gọi là màu x.

Thẻ đó là thẻ màu điển hình nhất cho màu x.

Kết quả: Berlin và Kay phát hiện ra, người thí nghiệm thường dựa vào một điểm nào đó để phân loại màu sắc, ví dụ người nói tiếng Anh cho rằng thẻ f3 hoặc g3 đại diện được cho “màu đỏ” (red); thẻ b9 đại diện được cho “màu vàng” (yellow). Đại đa số người nói tiếng Anh đều cho rằng như thế. Những thẻ đó được gọi là foci.

Thật ngạc nhiên là, dù sử dụng ngôn ngữ nào, thì người tham gia thí nghiệm vẫn rất thống nhất trong việc chỉ ra thẻ foci. Kể cả người tham gia có sử dụng một thứ ngôn ngữ mà, những từ chỉ màu cơ bản ít hơn tiếng Anh, thì họ vẫn chỉ ra những foci như người sử dụng tiếng Anh.

Qua thí nghiệm trên có thể thấy rằng:

Người tham gia thí nghiệm coi 1 phạm trù màu sắc (ví dụ như phạm trù “đỏ”) bao gồm nhiều thành viên (các sắc độ, độ sáng khác nhau), nhưng đều lấy một số rất ít thành viên làm trung tâm (foci), và việc lấy thẻ màu nào làm foci không liên quan đến việc người đó sử dụng ngôn ngữ nào. Những thẻ được gọi là “màu đỏ” được tập hợp quanh foci đỏ. Càng xa foci thì càng khó được gọi là màu đỏ, đến một mốc nào đó sẽ hoàn toàn chuyển sang 1 màu khác. Tuy nhiên, biên giới giữa các màu cơ bản là không rõ ràng.

Mở rộng ra, thao tác phạm trù hóa không phải thao tác tập hợp đơn giản, mà là lấy một thành viên tiêu biểu làm trung tâm, rồi mở rộng phạm trù về phía biên. Thành viên nào càng xa trung tâm, càng gần biên thì càng ít các đặc tính của phạm trù. Đường biên của phạm trù không rõ ràng. Thành viên điển hình cho phạm trù được gọi là điển hình, hay nguyên dạng (prototype).

Trắc nghiệm tâm lí học của Eleanor Rousch:

E.Rousch quan tâm đến bối cảnh tâm lí học của việc chỉ ra foci màu, bà tiến hành các thí nghiệm với trẻ em và với tộc người Dani ở Pa-pua Niu Ghi-nê (trong tiếng Dani, chỉ có 2 từ chỉ màu cơ bản), để đảm bảo hạn chế tối đa ảnh hưởng của ngôn ngữ với việc phân loại màu.

Thí nghiệm 1: trò chơi “cho tôi xem màu”

Rousch cho 24 em bé 3 tuổi xem các thẻ foci, mỗi thẻ foci kèm theo 7 thẻ có cùng sắc độ nhưng không cùng độ sáng, và yêu cầu các em chọn ra màu sắc các em thích nhất. Kết quả: màu vàng có 22 em chọn đúng thẻ foci, màu da cam 21 em, màu xanh lục 11 em, các màu sắc khác có thấp hơn, nhưng số lượng chọn thẻ foci vẫn chiếm ưu thế.

Thí nghiệm 2: chỉ ra màu đúng

Rousch cho các em bé 4 tuổi xem 1 thẻ foci và 1 thẻ cùng sắc độ, khác độ sáng, yêu cầu các em chỉ ra thẻ cùng màu trên bảng màu Munsell. Kết quả là, thẻ foci có tỉ lệ chính xác cao hơn hẳn các thẻ khác độ sáng.

Thí nghiệm 3:

Rousch tổ chức 2 nhóm, 1 nhóm là những người Dani, 1 nhóm là người Mĩ để tiến hành đối chiếu (tiếng Anh có 11 từ chỉ màu cơ bản, tiếng Dani chỉ có 2). Bà yêu cầu người tham gia thí nghiệm nhìn 8 thẻ foci, và 8 thẻ không phải foci, mỗi thẻ nhìn 5 giây. Sau khi nhìn 1 thẻ, nghỉ 30 giây, rồi chỉ ra vị trí thẻ đó trên bảng màu Munsell.  Kết quả vẫn giống thí nghiệm 2, đó là thẻ foci có tỉ lệ chính xác cao hơn hẳn.

Thí nghiệm 1 của Rousch cho thấy, những màu tiêu điểm dễ dàng kích thích hệ thống thần kinh của con người hơn là những màu thuộc vùng biên. Thí nghiệm thứ 2 cho thấy, màu tiêu điểm dễ dàng trở thành một “điểm nhấn” trong trí nhớ của con người. Nếu quá trình phạm trù hóa là dựa vào kinh nghiệm, thi rõ ràng người ta sẽ sử dụng những “điểm nhấn” trong kí ức làm chỗ dựa, và tiến hành loại suy (cùng các thao tác tưởng tượng khác) để phạm trù hóa. Thí nghiệm 3 khẳng định chắc chắn hơn, các foci có tác dụng hỗ trợ trí nhớ ngắn hạn của con người.

“Điểm nhấn” này, chính là nguyên dạng (prototype), tức thành viên điển hình của phạm trù. Thành phần nào có sự tác động lên trí nhớ càng ít, thì thành phần đó càng về biên, và tiến dần tới một “điểm nhấn” khác của phạm trù khác.

Tất nhiên, những thí nghiệm trên là tương đối đơn giản, và chỉ là những thí nghiệm đầu tiên của lí thuyết nguyên dạng. Những thí nghiệm của Berlin, Kay và Rousch tuy chưa thể hoàn toàn chứng minh cho cơ chế của thao tác phạm trù hóa, nhưng là sự khởi đầu cho lí luận khoa học tri nhận mới. Sau này rất nhiều thí nghiệm và nghiên cứu khác được tiến hành, chứng minh sự đúng đắn của khoa học tri nhận.

Đọc thêm:

  • George Lakoff, Women, Fire and Dangerous Things: What Categories Reveal about The Mind (Phụ nữ, Lửa và Những Thứ Nguy Hiểm: Phạm Trù Tiết Lộ Điều Gì về Tư Duy).
  • Friedrich Ungerer, Hans-Jörg Schmid, An Introduction to Cognitive Linguistics (Dẫn Luận Ngôn Ngữ Học Tri Nhận).