Add Me!Close Menu Navigation

Blog cá nhân của Mặc Sinh Lê Huy Hoàng trên Thư Họa Việt Nam

Add Me!Open Categories Menu

Sơ lược về phạm trù và nguyên dạng

Phạm trù hóa (categorization) là một  thao tác cơ bản nhất của tư duy, nếu không có sự phạm trù hóa, tư duy của chúng ta chỉ là một tập hợp những thành phần riêng lẻ, hỗn độn, không quy luật, không liên hệ.

Theo quan điểm truyền thống, phạm trù (category) là một tập hợp (set) được hình thành căn cứ vào những đặc tính chung của các thành viên. Nếu chỉ căn cứ vào đặc tính của các thành viên để định nghĩa phạm trù, thì:

  • Trong một tập hợp, không có thành viên nào là mẫu điển hình của tập hợp đó.
  • Phạm trù không phụ thuộc vào đặc tính của chủ thể tiến hành thao tác phạm trù hóa, nói cách khác, không liên quan đến tâm lí, hoạt động, năng lực quan sát, năng lực tư duy hình tượng, năng lực học tập, ghi nhớ… của con người.

Trên thực tế, từ hàng ngàn năm nay, nhân loại gần như “mặc định” về định nghĩa đó, thậm chí không cần tiến hành miêu tả trong sách giáo khoa, vì nó gần như là tiên đề cho hoạt động khoa học, bao gồm ngôn ngữ học. Ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu – theo như F.Saussure nói. Một kí hiệu (symbol) chỉ có nghĩa khi nó tương ứng với một thực thể trong thế giới khách quan (hoặc thế giới tưởng tượng). Quan hệ giữa kí hiệu và thực thể (symbol-to-object) không liên quan đến đặc điểm tư duy của người sử dụng kí hiệu. Quan hệ giữa kí hiệu và phạm trù (symbol-to-category) cũng là quan hệ khách quan. Như vậy, phạm trù chắc chắn là một thứ khách quan, nằm ngoài đặc điểm tư duy chủ quan của con người.

Trong khi đó, khoa học tri nhận lại nhìn nhận phạm trù được xây dựng từ kinh nghiệm và cơ chế tưởng tượng (bao gồm các thao tác ẩn dụ, hoán dụ, liên tưởng), trong đó cơ chế tưởng tượng là cơ chế dùng để lí giải kinh nghiệm.

Ta hãy xem các thí nghiệm về màu tiêu điểm (focal colours) dưới đây:

Thí nghiệm đơn giản của Brent Berlin và Paul Kay:

Berlin và Kay sử dụng hệ thống màu Munsell để tiến hành thí nghiệm. Bảng màu Munsell bao gồm 40 sắc độ, đánh số theo chiều ngang từ 1-40, mỗi sắc độ lại chia làm 8 độ sáng khác nhau, đánh dấu từ a-h theo chiều dọc, ngoài ra có thêm màu trắng, đen và 7 màu xám,t ổng cộng 329 thẻ màu.

Hệ thống màu Munsell

Berlin và Kay chọn ra những người nói những thứ tiếng khác nhau (20 thứ tiếng) tiến hành thí nghiệm phân loại màu sắc như sau:

Bước 1: Chỉ ra những màu sắc cơ bản, (1) được biểu thị bằng một từ của tiếng mẹ đẻ của người tham gia thí nghiệm (ví dụ không bao gồm từ greenish-blue trong tiếng Anh); (2) là màu sắc được sử dụng rộng rãi (ví dụ không phải từ blond (vàng kim) trong tiếng Anh); (3) màu sắc đó phải do một từ quen thuộc với đại đa số người sử dụng ngôn ngữ đó biểu thị, những từ ngữ đó phải rất dễ dàng hiện ra trong não người nói (ví dụ không bao gồm những từ như vermilion, magenta, indigo). Sau bước này, Berlin và Kay đã chọn ra được những từ ngữ chỉ màu cơ bản (basic colour terms) của các ngôn ngữ khác nhau.

Bước 2: Đưa ra bảng màu Munsell, yêu cầu những người thí nghiệm chỉ ra:

Một thẻ màu mà trong bất cứ điều kiện nào đều được gọi là màu x.

Thẻ đó là thẻ màu điển hình nhất cho màu x.

Kết quả: Berlin và Kay phát hiện ra, người thí nghiệm thường dựa vào một điểm nào đó để phân loại màu sắc, ví dụ người nói tiếng Anh cho rằng thẻ f3 hoặc g3 đại diện được cho “màu đỏ” (red); thẻ b9 đại diện được cho “màu vàng” (yellow). Đại đa số người nói tiếng Anh đều cho rằng như thế. Những thẻ đó được gọi là foci.

Thật ngạc nhiên là, dù sử dụng ngôn ngữ nào, thì người tham gia thí nghiệm vẫn rất thống nhất trong việc chỉ ra thẻ foci. Kể cả người tham gia có sử dụng một thứ ngôn ngữ mà, những từ chỉ màu cơ bản ít hơn tiếng Anh, thì họ vẫn chỉ ra những foci như người sử dụng tiếng Anh.

Qua thí nghiệm trên có thể thấy rằng:

Người tham gia thí nghiệm coi 1 phạm trù màu sắc (ví dụ như phạm trù “đỏ”) bao gồm nhiều thành viên (các sắc độ, độ sáng khác nhau), nhưng đều lấy một số rất ít thành viên làm trung tâm (foci), và việc lấy thẻ màu nào làm foci không liên quan đến việc người đó sử dụng ngôn ngữ nào. Những thẻ được gọi là “màu đỏ” được tập hợp quanh foci đỏ. Càng xa foci thì càng khó được gọi là màu đỏ, đến một mốc nào đó sẽ hoàn toàn chuyển sang 1 màu khác. Tuy nhiên, biên giới giữa các màu cơ bản là không rõ ràng.

Mở rộng ra, thao tác phạm trù hóa không phải thao tác tập hợp đơn giản, mà là lấy một thành viên tiêu biểu làm trung tâm, rồi mở rộng phạm trù về phía biên. Thành viên nào càng xa trung tâm, càng gần biên thì càng ít các đặc tính của phạm trù. Đường biên của phạm trù không rõ ràng. Thành viên điển hình cho phạm trù được gọi là điển hình, hay nguyên dạng (prototype).

VN:F [1.9.17_1161]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)

Có thể bạn cũng muốn xem

Tác giả: Lê Huy Hoàng

6 phản hồi to “Sơ lược về phạm trù và nguyên dạng”

  1. liên tồ nói:

    Ở VN bi h thấy bảo mấy năm gần đây là đang nghiên cứu về màu sắc và tri nhận. Thấy bảo sôi nổi lắm đấy ông ạ.
    Cái Metaphor we live by cũng nói về cái nì :b

    • Lê Huy Hoàng nói:

      Sách Metaphor we live by là nói về 1 thao tác cụ thể (tức là “ẩn dụ”), đi sâu vào thao tác ẩn dụ, phá bỏ quan điểm cũ (coi ẩn dụ là thao tác thứ yếu, mang tính văn chương), cho rằng ẩn dụ phải là 1 trong những thao tác tư duy chính. Hình như tôi chưa đọc đến phần nào của sách í nói về cái nì :-??

      • liên tồ nói:

        nếu quyển ấy ko có thì nó nằm ở bộ 2 quyển kia :d

        • Lê Huy Hoàng nói:

          Thì tôi tham khảo 2 quyển kia mà :-J Cuối bài tôi có ghi tên sách mà :-J

          • liên tồ nói:

            ông thật là giỏi ấy, hồi xưa tôi học quyển của Lakoff tôi ko diễn tả ra được = tiếng Việt thế này đâu. May quá cái phần về màu sắc này thì tôi hiểu. Nhưng đọc đến mấy cái phần sau thì chỉ muốn đập đầu vào tường. Ông đọc tiếp đi rồi viết tiếp đi ;))

          • Lê Huy Hoàng nói:

            Đọc 1 ít sách tiếng Việt là biết các bố VN dùng từ ngữ thế nào để diễn đạt ấy mà :-J Không rõ tôi đọc đến phần sau có đập đầu vào mông mà chết không :))

Gửi ý kiến




Email
Print
WP Socializer Aakash Web