Sơ lược về vấn đề “kịch bản” trong ngôn ngữ học tri nhận

Khung (frame)

Trong khoa học tri nhận nói chung, ngôn ngữ học tri nhận nói riêng, “khung” (frame) là một mô hình tri nhận liên quan chặt chẽ tới phạm trù (category). Khái niệm “khung” lần đầu tiên được Charles Fillmore đề ra vào khoảng những năm 70 của thế kỉ trước. Định nghĩa đầu tiên của Fillmore về “khung” là bất kì hệ thống lựa chọn ngôn ngữ nào tạo dựng được liên hệ với điển dạng. Ta có thể lấy một ví dụ đơn giản của chính Fillmore: giả sử có một “khung” là [BUY] (mua sắm – tên của khung bên dưới sẽ được đặt trong dấu ngoặc vuông). Ví dụ một câu sau:

(1) David bought an old shirt from John for ten pounds.

(David mua một chiếc áo cũ từ John với giá mười bảng.)

Trong câu này, có 4 thành phần của khung [BUY] tham gia: người mua (David) làm chủ ngữ, hàng hóa (chiếc áo cũ) làm tân ngữ, người bán (John) làm trạng ngữ 1, tiền (10 bảng) làm trạng ngữ 2. Vì động từ chính của câu là “buy” (bought), là tiêu điểm cho vai trò cú pháp câu, nên ta coi đó là góc nhìn cú pháp (syntactic perspective).

Kịch bản (script)

Nếu “khung” là khái niệm phi thời gian tuyến tính, thì “kịch bản” (script) là một khái niệm thời gian tuyến tính, là một bước đi sâu hơn của khung. Như tên gọi, “kịch bản” dùng để chỉ sự sắp đặt trước các sự việc sẽ lần lượt xảy ra, các sự vật sẽ lần lượt xuất hiện theo thời gian. Kèm theo kịch bản đương nhiên sẽ có “đạo cụ”, “nhân vật”, “điều kiện xảy ra”… Ở mỗi bước tiến trình, đều có thể xuất hiện một vài khả năng phát triển khác nhau. Ta lấy ví dụ về kịch bản [quán ăn] rất nổi tiếng của Roger Schank và Robert Abelson:

Đạo cụ: Bàn, thực đơn, đồ ăn (F), hóa đơn, tiền

Nhân vật: thực khách (S), nhân viên (W), đầu bếp (C), nhân viên thu tiền (M), chủ quán (O)

Điều kiện xảy ra: S đói, S có tiền

Kịch bản:

1. Thực khách ngồi ở bàn

2. Có thể là:

2.1. (thực đơn trên bàn) S truyền tin: thực đơn cho S

2.2. (W cầm thực đơn tới)

2.3. (S yêu cầu thực đơn) S truyền tin: ra hiệu với W, W truyền tin: W tới bàn, S truyền  tin “yêu cầu thực đơn” tới W, W truyền tin: đưa thực đơn

3. W truyền tin: W tới bàn, W truyền tin cho S: thực đơn

4. S chọn đồ ăn(***). S truyền tin: gọi W, W truyền tin: W tới bàn, S truyền tin: “yêu cầu thực đơn”

5. W truyền tin: W tới chỗ C. W truyền tin cho C: đồ ăn được đặt

6. Có thể là:

6.1. C làm món ăn

6.2. C truyền tin tới W: không có món đó, W truyền tin cho S, (quay trở lại (***) hoặc rời khỏi nhà hàng)

Khi đối thoại, chúng ta đã tự động điền thêm rất nhiều thông tin đến từ khung và kịch bản vào. Thậm chí nếu không có thông tin phù hợp với kịch bản, thì đến đoạn hội thoại đơn giản nhất, ta cũng rất khó hiểu. VD:

(2) John went into a restaurant. He asked the waitress for cod au vin. He paid the bill and left.

(John đi vào một nhà hàng. Anh gọi phục vụ cho món gà Pháp. Anh trả tiền và rời đi.)

(3) John went into a restaurant. He saw a waitress. He got up and went home.

(John đi vào một nhà hàng. Anh nhìn người phục vụ. Anh đứng dậy và về nhà.)

Dù 2 câu chuyện trên có lượng thông tin giống nhau khá nhiều, nhưng câu chuyện đầu tiên rất dễ hiểu, câu chuyện thứ 2 thì có vẻ không có ý nghĩa gì lắm. Đó là bởi vì câu chuyện đầu tiên phù hợp với kịch bản đã định sẵn trong đầu chúng ta hơn là câu chuyện thứ 2.

Ví dụ khác trích từ sách An Introduction to Cognitive Linguistics:

(4) Sue caught a plane from London to Madrid. After she had found her seat she checked whether the life vest was beneath it, but she could not find it. So she asked the flight attendant to find one for her.

(Sue bắt chuyến máy bay từ London đi Madrid. Sau khi cô tìm được chỗ ngồi, cô kiểm tra xem có áo cứu sinh ở dưới không, nhưng cô không tìm thấy. Vì vậy cô yêu cầu nhân viên hàng không tìm cho cô một chiếc.)

Chỉ có đoạn văn tách biệt này, không có câu trên, không có câu dưới. Ta có thể thấy, quán từ “the” vẫn được dùng cho “life vest” và “flight attendant”, mặc dù ta biết quán từ này chỉ dùng cho trường hợp sự vật đã được xác định. Tại sao trong trường hợp không có thêm ngữ cảnh nào nhắc đến những sự vật trên, quán từ “the” vẫn được dùng? Vì những sự vật đó đã được xác định trong kịch bản của một người lên máy bay, và đa số chúng ta đều có kinh nghiệm hoặc tri thức cá nhân về nó./