Thử bàn về bản chất tri nhận của phạm trù lượng

Gọi là “thử”, vì muốn thực sự nói đến bản chất tri nhận của một phạm trù nhận thức, thì trước hết cần có đầy đủ hiểu biết về khoa học tri nhận, sau đó cần có những nghiên cứu đo đạc công phu để lượng hóa một cách tốt nhất có thể phạm trù ấy. Tôi thiếu cả hai, nên chỉ có thể điểm qua những ghi nhận sơ khai nhất về bản chất tri nhận của phạm trù lượng trong tư duy và trong ngôn ngữ.

“Lượng” (quantity) là gì? “Lượng” – xét về bản chất, là sự so sánh. Phạm trù lượng là một phạm trù cơ bản nhất của tư duy. Người ta tri nhận phạm trù lượng chính là thông qua hành động so sánh trong tư duy. Thậm chí có thể nói, động vật cũng tiến hành so sánh, ví như đàn bò rời bỏ nơi ít cỏ và tìm đến chỗ có đủ cỏ cho cả đàn chẳng hạn. Nhưng đó là sự “tư duy” nguyên thủy, khác với sự tư duy qua ngôn ngữ của loài người. Khi đã có ngôn ngữ hỗ trợ, loài người tư duy phạm trù lượng một cách rõ ràng, cụ thể hơn rất nhiều. Hành động so sánh về lượng trong tư duy giúp loài người có sự so sánh nhiều – ít, và cụ thể hóa bằng số đếm 1, 2, 3, 4… Rồi người ta so sánh nhanh – chậm, và phát minh ra những công cụ đo thời gian. Còn rất nhiều cặp phạm trù khác hình thành nhờ so sánh, như lớn – bé, sáng – tối, cao – thấp, dài – ngắn…

Thao tác tri nhận

Có một điều cần phải lưu ý rằng, người ta không đi từ cái cụ thể trước, mà đi từ cái trừu tượng trước, rồi cố gắng dùng những đại lượng cụ thể để tiến hành lượng hóa, cụ thể hóa phạm trù lượng mà người ta tri nhận được. Nói đơn giản là, dù bạn không biết đếm, bạn cũng có thể cảm nhận rõ ràng sự khác nhau giữa một viên đá và một chồng đá. Sau đó, bạn có nhu cầu tính toán chính xác sự khác nhau đó là bao nhiêu, và có nhu cầu truyền đạt cho người khác, bạn mới phải học đếm.

Chính vì thế, những phạm trù đối lập như nhiều – ít, nhanh – chậm, lớn – bé… thực ra không hề cố định, cũng không hề tách bạch rõ ràng. Không cố định là vì, trong phạm vi so sánh này thì là nhiều, nhưng cũng số đó trong phạm vi so sánh khác lại là ít. Chẳng hạn 100.000 VND là nhiều khi mua một cuốn sách mỏng, nhưng là ít khi mua một bộ sách lớn. Bản thân 100.000 là nhiều hay ít, hoàn toàn phụ thuộc vào phạm vi so sánh do người tư duy chủ động thực hiện.

Các cặp phạm trù đối lập trên cũng không tách bạch rõ ràng, mà được chuyển hóa dần sang nhau. Lấy ví dụ đơn giản như “buổi sáng” và “buổi trưa”, từ mấy giờ đến mấy giờ là buổi sáng? Từ mấy giờ mới bắt đầu buổi trưa? 10h45′ là sáng hay trưa? Cũng như vậy, nếu có một chồng sỏi, bạn coi là nhiều, rồi mỗi lần lấy bớt đi một viên sỏi và hỏi bạn “đây là ít hay nhiều”, thì bạn có chắc chắn được đến lúc nào mới là “ít” không? Bạn chỉ có thể chắc chắn rằng, số sỏi đang ít dần đi mà thôi. Đây là những ví dụ đơn giản của lí thuyết nguyên dạng (prototype) và phạm trù (category).

Số lượng cụ thể chẳng qua là một bước cụ thể hóa những phạm trù trừu tượng trong tư duy mà thôi. Hệ số tự nhiên không phải là biểu hiện sơ khai của phạm trù lượng, mà ngược lại, đó là một bước tiến dài của tư duy, chuyển từ chủ quan trừu tượng sang quy ước khách quan cụ thể.

Lượng trong lời nói

Thao tác so sánh trong tư duy thể hiện ra trong lời nói, chính là phạm trù lượng trong ngôn ngữ. Sau khi tiến hành so sánh và đưa ra lượng trong lời nói, người nói có 2 lựa chọn: 1 là thông báo lượng một cách khách quan; 2 là dùng một hình thái ngôn ngữ nào đó, hoặc một hành động ngoài lời nào đó để thể hiện thái độ đánh giá của mình về lượng. Nếu tiến hành lựa chọn số 2, thì tức là người nói đã sử dụng “lượng chủ quan”. Quá trình giao tiếp diễn ra như sau:

  • Người phát ngôn: Tri nhận về lượng –> lập mã ngôn ngữ (encoding) –> diễn đạt
  • Người tiếp nhận: Tiếp nhận thông tin –> giải mã (decoding) –> tri nhận về lượng

Nếu giá trị tri nhận về lượng của người tiếp nhận trùng hoặc gần trùng với giá trị tri nhận về lượng của người phát ngôn thì nghĩa là quá trình lập mã và giải mã thành công. Nếu không, ta buộc phải xem lại các quá trình lập mã, giải mã, diễn đạt, tiếp nhận, nói ngắn gọn là xem lại hiệu quả cuộc giao tiếp. Tuy nhiên, nếu là lượng chủ quan thì tình hình không hẳn là đơn giản như thế. Như ta đã biết, tư duy là thế giới khách quan được phản ánh qua lăng kính chủ quan, nên nếu người tham gia cuộc giao tiếp muốn trình bày về lượng chủ quan thì ta phải xét đến cái lăng kính chủ quan của cả người phát ngôn và người tiếp nhận. Sơ đồ quá trình giao tiếp phải như sau:

  • Người phát ngôn: Tri nhận về lượng –> đánh giá về lượng –> lập mã –> diễn đạt
  • Người tiếp nhận: Tiếp nhận –> giải mã –> tri nhận về lượng + lí giải đánh giá của người phát ngôn

Người tiếp nhận sẽ có 2 thông tin, thứ nhất là lượng, thứ hai là đánh giá của người phát ngôn về lượng đó. VD:

  • Phát ngôn: tri nhận về lượng: 100.000 VND –> đánh giá: ít –> lập mã –> diễn đạt: 100.000 thì làm sao đủ mua cuốn từ điển đó?
  • Tiếp nhận: lượng 100.000; theo người phát ngôn thì là ít.

Nếu người tiếp nhận không đồng ý với đánh giá đó, họ sẽ sử dụng một hình thức ngôn ngữ nào đó để phản đối lại. Khi họ bắt đầu sử dụng ngôn ngữ để phản ứng lại, vai trò của họ lại trở thành người phát ngôn. (VD như người đó có thể nói: 100.000 mà còn chưa đủ?) Tác thao tác trên lại được lặp lại, cho đến khi kết thúc đối thoại./