Hệ thống ghi âm vị – hệ thống chính tả

Trước hết, bài này liên quan chặt chẽ đến chuyện hệ chữ mới được Bùi Hiền đề xuất. Tôi xin khẳng định trước, tôi không ủng hộ đưa bộ chữ đó vào thay thế chính tả quốc ngữ hiện hành, và cũng chắc chắn rằng hiện tại sẽ không có chuyện thay đổi chính tả quốc ngữ (lí do tôi trình bày bên dưới). Phải “rào” trước như vậy, để tránh trường hợp lỡ có độc giả nào mới đọc nửa bài đã… chửi. Tôi rất hi vọng, những độc giả chưa tiếp xúc với khoa học ngôn ngữ có thể đọc kĩ bài, bài chỉ gồm những khái niệm cơ bản trong ngôn ngữ học. Sau khi nắm được những khái niệm cơ bản, thì tự rút ra kết luận về hệ thống chữ mới của Bùi Hiền đề xuất cũng chưa muộn.

* Trong bài này, kí tự trong hệ thống chữ viết được để trong ngoặc kép ” “, phiên âm quốc tế được để giữa gạch chéo / /.

1. Hệ thống chữ viết

Trước khi có ý kiến phê phán hay ủng hộ một hệ thống chữ viết, trước hết ta cần biết CHỮ VIẾT (hay VĂN TỰ) là gì. Nhiều người thường không phân biệt 2 khái niệm cơ bản là hệ thống ngôn ngữ nói và hệ thống ngôn ngữ viết (chữ viết, văn tự). Ngôn ngữ nói là thứ đi trước, ngôn ngữ viết là thứ được tạo ra sau, và phụ thuộc vào ngôn ngữ nói, mục đích để lưu trữ ngôn ngữ nói dưới dạng hình ảnh, đảm bảo tính lưu truyền của nó. Trong giới ngôn ngữ học, thường khi nói tới “ngôn ngữ” (language) là sẽ mặc định được hiểu là ngôn ngữ nói, vì ngôn ngữ viết có riêng một ngành nghiên cứu là văn tự học.

Nhìn chung, ngôn ngữ (từ đây để ngắn gọn, tôi sẽ sử dụng thuật ngữ “ngôn ngữ” cho ngôn ngữ nói, “chữ viết” cho ngôn ngữ viết) là hệ thống kí hiệu: một hình thức ngôn ngữ (từ, ngữ, câu…) đại diện cho một ý niệm trong tư duy, ý niệm đó lại là sự phản ánh chủ quan một tồn tại khách quan nào đó bên ngoài. Chữ viết lại là một hệ thống kí hiệu tiếp theo, dùng một bộ kí hiệu để ghi chép lại ngôn ngữ.

Nếu đã là hệ thống kí hiệu, thì nó sẽ có tính võ đoán của nó. Tính võ đoán nghĩa là, ta không thể giải thích vì sao kí hiệu này lại đại diện cho thứ này. Ví dụ tại sao âm thanh “sách”, hay các kí tự s-á-c-h ghép vào lại đại diện được cho khái niệm về sách. Nói cách khác, ta không giải thích được tại sao “sách” lại gọi là “sách”. Chính vì tính võ đoán, mà dù cùng một khái niệm, nhưng mỗi nhóm người khác nhau lại sử dụng các tên gọi khác nhau. Cùng là “sách”, nhưng người Việt Nam nói là “sách”, người Anh nói là “book”, người sử dụng tiếng phổ thông Trung Quốc nói là “shu”.

Trong cùng một nhóm người, có thể song song sử dụng 2 bộ kí hiệu khác nhau. VD người Việt nói “sách”, nhưng cũng biết tiếng Hán Việt “thư” có nghĩa tương đương. Còn ở ngôn ngữ viết, những thời kì khác nhau cùng một nhóm người cũng có thể sử dụng những kí hiệu khác nhau, ví dụ khi còn dùng chữ Hán chữ Nôm, “sách” được viết là 册, hiện nay chữ quốc ngữ viết là “sách” – với ai biết chữ Hán Nôm, thì họ cũng hiểu, dù viết kí hiệu 册 hay kí hiệu “sách” thì cũng chỉ có một âm đọc.

Vậy nếu nói đến bộ chữ viết mới của Bùi Hiền, thì thực ra đó là một hệ thống kí hiệu khác, nhưng vẫn dùng để ghi lại ngôn ngữ Việt (tiếng Kinh), chứ không phải để ghi một thứ ngôn ngữ khác. Vì vậy, rất khó hiểu khi có những người sợ nó “ảnh hưởng tới sự trong sáng của tiếng Việt”, đấy là chưa kể, trong thực tế nó chưa được áp dụng, và thực ra là sẽ… không được áp dụng. Nhân đây, cái bộ kí hiệu chữ viết mà ta gọi là teen code, cũng không thể phổ biến tới toàn dân và ảnh hưởng tới hệ thống chữ quốc ngữ được, nên các bác “nghiêm túc” chớ lo. Chuyện tiếng Việt có “trong sáng” hay không, còn xem định nghĩa “trong sáng” của quý vị là thế nào, tính ở thời kì nào nữa.

2. Hệ thống chữ ghi âm vị

Trên thế giới hiện tại chủ yếu tồn tại 2 hình thức chữ viết, đó là chữ ghi âm và chữ khối vuông. Về văn tự khối vuông (như chữ Hán), tạm thời tôi không bàn ở đây. Còn về chữ ghi âm, lại có thể chia 2 loại nhỏ: 1/ chữ ghi âm tiết (như chữ Hiragana, Katakana của Nhật); 2/ chữ ghi âm vị (chữ Anh, chữ Việt…). Ở đây vì liên quan đến chữ Việt – tiếng Việt, nên tôi xin giải thích về hệ thống ghi âm vị.

Đầu tiên, đơn vị phát âm nhỏ nhất có thể chia tách được, gọi là âm tố. Ví dụ “Việt” có thể chia nhỏ ra thành /v/, /i/, /e/, /t/ và thanh điệu (thanh “nặng”), đó là các âm tố. Tuy vậy, để ghi chép một ngôn ngữ bằng hệ thống chữ ghi âm, ta không cần thiết phải chia quá chi tiết các âm tố, mà có thể hợp vài âm tố thành một âm vị.

Âm vị là đơn vị phát âm nhỏ nhất có thể chia tách, nhưng có chức năng khu biệt nghĩa. Ví dụ, “mẹ” có thể chia thành 3 âm tố: /m/, /ɛ/, thanh nặng. Một số địa phương có thể thêm “i” vào giữa, thành ra “mịe”, vậy là thêm âm tố “i”. Nhưng với người sử dụng tiếng Việt mà nói, “mẹ” và “mịe” không khác gì nhau về nghĩa, họ vẫn cho rằng về bản chất vẫn là cùng một tiếng. Vậy nên nếu ai đó có đọc là “mịe” thì ta không cần thiết phải ghi thêm âm tố “i” nữa. Nói cách khác, “e” và “ie” lúc này không tạo nên sự khu biệt nghĩa, có thể gộp lại thành 1 âm vị, đó là “e”. Ngược lại, “mẹ” và “mạ” khác nhau ở nguyên âm chính (“e” và “a”), và tạo ra sự khác biệt về nghĩa. Vì thế “e” và “a” không thể nhập làm một được, phải ghi thành 2 âm vị khác nhau.

Về cơ bản, chữ quốc ngữ hiện hành là một hệ thống chữ ghi âm vị, và bộ chữ do Bùi Hiền để xuất cũng là một hệ thống ghi âm vị. Đối với người điều tra ngôn ngữ, họ sẽ sử dụng hệ thống phiên âm quốc tế (IPA) để tạo một bản ghi âm vị chi tiết cho một thứ ngôn ngữ cần điều tra.

3. Hệ thống ghi âm vị hoàn hảo

Một hệ thống ghi âm vị hoàn hảo nên đảm bảo các yếu tố sau:

3.1. Tính kinh tế: hệ thống đảm bảo số lượng kí hiệu ít nhất có thể, mà vẫn đảm bảo được tính đơn nhất của kí hiệu. Nghĩa là dù ít kí hiệu (chữ cái) đến đâu, hệ thống cũng đảm bảo yêu cầu là một cụm kí hiệu không thể đại diện cho nhiều âm đọc khác nhau. Xét về điều này, đúng là hệ thống của ông Bùi Hiền ít kí hiệu hơn chữ quốc ngữ hiện hành, nhưng cũng xuất hiện lỗi: “của” và “quả” bị ghi giống nhau, thành “kủa”.

3.2. Tính bổ sung: 1 kí hiệu có thể đại diện cho 2 âm vị, nhưng phải đảm bảo tính bổ sung, tức là 2 âm vị không đồng thời xuất hiện ở cùng 1 điều kiện ngữ âm.

3.3. Tính tương tự: 1 kí hiệu nếu đại diện cho nhiều âm vị, thì ngoài tính bổ sung cũng nên đảm bảo tính tương tự, tức là những âm vị đó phải là những âm vị phát âm gần giống nhau.

Rõ ràng, hệ thống chữ quốc ngữ đang là một hệ thống thiếu hoàn hảo. Có những âm vị được viết bằng 2 kí hiệu: /ŋ/ được viết bằng “ng” và “ngh” mà không rõ lí do (tại sao i, e, ê lại phải đi với “ngh”?); hoặc /z/ tại sao không dùng “z” để viết, lại phải viết là “gi”? Đi sâu hơn một chút, âm cuối trong những âm tiết “ai” và “ay” đều là /i/, nhưng lại được viết bằng cả “i” và “y”, bởi vì người tạo ra hệ thống sử dụng thói quen ghi chép một số thứ tiếng châu Âu (thực ra sự khác biệt chính nằm ở nguyên âm chính, “ai” đọc /a/ và “ay” đọc /ʌ/ – một âm như “a” nhưng đọc ngắn). Cùng phụ âm /k/ nhưng được sử dụng tới 3 kí hiệu khác nhau: “c”, “k” và “q” (và ông Bùi Hiền sửa hết thành “k”).

Tất nhiên, sự kém hoàn hảo của chữ quốc ngữ có nguyên nhân lịch sử của nó: thời kì các giáo sĩ tới Việt Nam truyền đạo là thời kì ghi chép phiên âm quốc tế chưa được đào tạo cẩn thận, các giáo sĩ sử dụng nhiều thói quen chính tả của châu Âu để đưa vào hệ thống này. Ví dụ “gh” đi với i, e, ê bởi vì trong các thứ chữ viết châu Âu nói chung, thì “g” đi trực tiếp với “i” và “e” sẽ dễ được đọc thành /z/, vì thế để tránh nhầm lẫn (cho người châu Âu), họ viết “gh”. Hoặc cùng một âm vị /k/ lại có tới 3 cách viết: “c”, “k” (đi với i, e, ê) và “q” (đi với u), lí do bởi chữ viết châu Âu nếu “c” đi với “i” hay “e” thì có thể được đọc thành /s/ hoặc /c/ (như “ch” trong tiếng Việt). Còn “q”, thì đúng là hơi thừa, nhưng họ quen viết q đi với u rồi, nên vẫn đặt ra như vậy. Điển hình là ta thấy “cuốc” với “quốc” đồng âm (lúc này, c và q cũng có tác dụng phân biệt nghĩa).

Phải nói thêm rằng, trong các thứ chữ viết châu Âu, thì chữ tiếng Anh chính là hệ thống rắc rối nhất, khi 1 kí hiệu có thể đại diện cho nhiều âm (e đại diện cho cả /i/, /ɛ/ và /ə/); 1 âm lại có thể dùng nhiều kí hiệu để ghi (/i/ có thể ghi “i” cũng có thể là “e”). Đa số các thứ chữ khác ở châu Âu ít bị tình trạng phân mảnh như thế, hệ thống ghi âm vị của họ tốt hơn chữ tiếng Anh rất nhiều.

Vậy tại sao một hệ thống kém hoàn hảo lại được sử dụng, và không thể thay thế một sớm một chiều? Bởi vì khi đã được phổ biến trở thành thói quen, và được đưa vào hệ thống giáo dục, thì tự nó sẽ có tính ổn định rất cao. Muốn thay đổi nó, ta cần thay đổi toàn bộ hệ thống giáo dục lẫn hệ thống xuất bản.

Thực tế là, chữ quốc ngữ hiện tại cũng đã trải qua nhiều lần sửa đổi, không cần kể xa tới tận thời kì Alexandre de Rhodes, chỉ cần so sánh hiện tại với những năm đầu thế kỉ XX nó đã khác nhiều. Thậm chí mới những năm 60, người còn viết là “giòng nước” thì nay đã nhất loạt đổi là “dòng”. Ấy là chưa kể một số từ, do ảnh hưởng của cách phát âm, mà viết chệch chính tả so với gốc gác của nó, ví dụ như “khoái chá” viết thành “khoái trá”, “vô hình trung” viết thành “vô hình chung”, “tựu trung” viết thành “tựu chung”, “cá chạch” viết thành “cá trạch”… Những “lỗi” đó khá phổ biến trong các ấn phẩm xuất bản hiện tại, một phần nguyên nhân vì chính tính ổn định của hệ thống chữ viết: hệ thống đã không chạy theo sự “tiền hóa” của phương ngữ miền Bắc, như “x” và “s” nhập làm một, “ch” và “tr” nhập làm một.

Ví dụ của chính tả quốc ngữ khoảng những năm 30

4. Nói riêng về những nhược điểm trong hệ thống chữ Bùi Hiền đề xuất

Ngoài lỗi “của” và “quả” không được phân biệt ra (thực ra rất dễ, viết là “kỏa” tự nhiên người ta đọc là “quả” thôi), thì hệ thống này cũng có một số nhược điểm nhất định:

  • Dùng “w” để thay “th”, “q” để thay “ng”, tuy không vi phạm nguyên tắc nào, nhưng lại không phù hợp với thói quen sử dụng kí tự Latin của thế giới. Xét trên phạm vi thế giới, cũng có thể nói là vi phạm nguyên tắc tương tự, vì sử dụng kí hiệu quá khác biệt.
  • Ông Bùi Hiền đã sáp nhập “x” và “s” (để dành “x” để ghi âm “kh” – theo đúng kí hiệu trong IPA), “tr” và “ch”, “d”, “gi” và “r” theo đúng thổ ngữ Hà Nội. Tuy vậy, điều này động tới chính sách ngôn ngữ (thứ mà hình như nước ta khá yếu kém?): chữ quốc ngữ KHÔNG PHẢI là hệ thống ghi riêng âm Hà Nội. Hơn nữa, dù đọc giống nhau (trong thổ ngữ Hà Nội), thì viết khác nhau đôi chút để khu biệt nghĩa cũng không phải việc gì không đúng, xét ở mức độ nào đó, nó khiến văn bản dễ đọc hơn, vì vậy, sự sáp nhập này chưa chắc đã cần thiết.
  • Ông Bùi Hiền tính đến vấn đề rút bớt số kí tự, từ đó tiết kiệm về mặt kinh tế, nhưng không rõ ông Bùi Hiền đã tính đủ bài toán kinh tế, bao gồm cải cách toàn bộ hệ thống chữ viết trong trường học, các đơn vị xuất bản, các cơ quan đoàn thể?
  • Việt Nam đã từng bị đứt gãy văn hóa vì một đợt cải cách chữ Viết, từ Hán Nôm sang quốc ngữ; nếu tiếp tục thay đổi hệ thống đột ngột, tuy không khác biệt đến mức như từ Hán Nôm sang quốc ngữ để gây ra đứt gãy tiếp, nhưng chắc chắn cũng sẽ gây khó khăn cho thế hệ sau khi tiếp cận với văn bản cũ. Thực ra ngay như hiện tại, đọc lại văn bản của những năm đầu thế kỉ XX, e là đã có rất nhiều người không hiểu hết, dù cùng dùng chữ quốc ngữ cả.
  • Phá hoại sự trong sáng của tiếng Việt đã được gìn giữ qua nhiều thế hệ, nhất là trong thời đại Hồ Chí Minh (tôi nói đùa đấy).