Luận về từ “hạn” trong tiếng Việt

Trong tiếng Việt, từ “hạn” có nhiều nghĩa, ngoài nghĩa là “thời hạn” ra, người Việt nói “hạn” còn có nghĩa là “vận rủi”, “chuyện không may”; mà “đại hạn” thì dễ là tai nạn nặng hoặc gặp Các Mác, Lê nin lắm! Vậy từ đâu ra nghĩa này?

“Hạn” là từ Hán Việt, chữ Hán viết là 限, vốn chỉ có nghĩa là một khoảng thời gian hoặc không gian nhất định. Vì thế mà ta có “thời hạn” – khoảng thời gian nhất định, “giới hạn” – khoảng không gian hoặc thời gian nhất định. Người ta cũng nói: “hạn trong vòng 3 ngày phải làm xong việc này”, hay “giới hạn trong vòng bán kính 2 km”…

Nhưng trong khẩu ngữ tiếng Việt, có những trường hợp như:

  • Năm nay tôi gặp hạn nặng lắm, chẳng làm ăn được gì, lại còn phải nhập viện.
  • Tháng này gặp hạn hay sao ấy, vừa ra khỏi cửa đã ngã gãy chân.
  • Thằng cha ấy năm nay gặp đại hạn rồi, vừa bị công an bắt xong đấy!

“Hạn” trong những câu trên, rõ ràng mang ý nghĩa là “vận đen”, “vận rủi”. Thực ra, gốc gác của “hạn” này vẫn cứ là “thời hạn” mà thôi! Chẳng là dân ta đầu năm hay đi xem quẻ, xem bói. Trong nghề xem bói thường có khái niệm “hạn”, vốn là để chỉ một khoảng thời gian nhất định của người cần xem, trong đó có thể có tiểu hạn một năm, đại hạn mười năm… Thầy xem bói thường hay phán hạn năm nay rơi vào những sao này sao này, nào là Kim Lâu nào là Thái Bạch gì đó. Xem Tử vi cũng vậy, tiểu hạn năm bao nhiêu tuổi gặp những sao nào sao nào, mà nếu sao của tiểu hạn “đồng bộ” với sao của đại hạn mười năm, thì ý nghĩa được tăng lên nữa, cho nên nói “đại hạn” là như thế.

Vậy thì, rõ ràng nói “hạn” là có hạn tốt, hạn xấu, chứ không phải chỉ có hạn xấu. Vậy tại sao người ta nói “hạn” lại chỉ sự rủi ro, xui xẻo, mà không chỉ những sự việc tốt đẹp như lấy chồng lấy vợ? Là vì tâm lí chung của người ta là muốn hỏi những việc không hay để còn đề phòng hoặc có biện pháp giải trừ tai ách. Gặp năm nào có Kim Lâu, Thái Bạch chi đó là người ta phải đi dâng sao giải hạn, chứ gặp sao tốt thì giải làm gì nữa! Vậy là dần dần, các nơi chùa chiền để tiện việc viết sớ dâng sao, đầu năm thường dán luôn bảng sao xấu ra ngoài cho khách thập phương tự tra cứu, ai tuổi nào năm đó gặp sao xấu thì tự giác biết đường mà làm lễ!

Vì thế, dần dần, “hạn” trở thành xấu, nghĩa tốt bị mờ đi, nghĩa xấu bị tăng lên. Mỗi khi nói đến “hạn”, người ta lại dễ nghĩ đến những việc không may mắn. Từ “hạn” trong tiếng Việt phải chịu “oan ức” từ đó! Có thể coi đó là hiện tượng thu hẹp ý nghĩa kết hợp với chuyển dịch ý nghĩa của từ.

Thêm: trong tiếng Hán hiện đại, từ “đại hạn” cũng chẳng tốt đẹp gì hơn. Ví dụ người ta nói“ 你的大限到了!”(Đại hạn của mày đến rồi!) thì có nghĩa là mày xong đời rồi.