Một vài kết cấu đánh dấu lượng chủ quan trong tiếng Việt

Ở các bài trước, tôi chỉ giới hạn trình bày một vài dấu hiệu đánh dấu lượng chủ quan trong tiếng Việt, đó là các phó từ “mới”, “đã”, và các trợ từ “rồi”, “thôi”. Bài này tôi sẽ mở rộng phạm vi, trình bày thêm một số dấu hiệu khác, qua đó tìm hiểu tính cố định về nghĩa của các dấu hiệu đó.

Trước hết, chúng ta hãy quy ước phân loại và giới hạn của lượng chủ quan.

“Lượng” ở đây bao gồm cả lượng cụ thể – tức là được biểu thị bằng số lượng từ, và lượng trừu tượng – tức là những lượng không được biểu thị bằng số lượng từ.

Lượng chủ quan ở đây tôi muốn chia thành ba loại: lượng lớn, lượng nhỏ và lượng đủ. Nếu đã có số lượng từ cụ thể để biểu thị, thì việc phân chia lượng lớn, lượng nhỏ là hoàn toàn dựa trên sự so sánh đơn giản, không cần thiết phải định nghĩa nữa, tuy nhiên với lượng trừu tượng thì theo tôi cần thiết phải có sự phân loại rõ ràng để bạn đọc tiện theo dõi. Tôi xin tạm phân chia như sau:

Lượng lớn Lượng nhỏ
Thời gian Dài Ngắn
Trạng thái Kích động, mạnh mẽ Bình tĩnh, yếu ớt
Khoảng cách Xa Gần
Hành động Khó, tốn sức Dễ, ít tốn sức
Điều kiện Tương đối hẹp Tương đối rộng

Còn về vấn đề lượng đủ, có lẽ nghiên cứu sơ sài của tôi còn nhiều khiếm khuyết, tất có bàn cãi. Để tiện việc trình bày, tôi tạm thời coi các kết quả vừa đạt mức “mong đợi” là lượng đủ.

1. Trường hợp 1: Lượng nhỏ (đủ) – lượng lớn

VD:

(1) Cho hai lượng sau: Một quyển sách – tám chục ngàn. Cho biết, “một quyển sách” là lượng nhỏ (hoặc đủ), “tám chục ngàn” là lượng lớn. Ta có một số cách nói sau đây (trong ngoặc đơn là có thể có hoặc không):

(1a) (Có/ có mỗi) một quyển sách (mà) đã tám chục ngàn (rồi).
(1b) (Có/ có mỗi) một quyển sách (mà) những tám chục ngàn (rồi).
(1c) (Có/ có mỗi) một quyển sách (mà) tận tám chục ngàn (rồi).
(1d) Những tám chục ngàn một quyển sách.
(1e) Tận tám chục ngàn một quyển sách.

(2) Lượng trừu tượng: đến muộn – kêu oai oái lên. Người nói cho rằng hành động “đến muộn” là dễ xảy ra, là thường tình (lượng nhỏ),  “kêu oai oái lên” là trạng thái kích động (Lượng lớn). Ta có khá ít khả năng để biểu đạt so với ví dụ (1):

(2a) Người ta (mới) đến muộn có một chút (mà) đã kêu oai oái lên (rồi).
(2b) Người ta (mới) đến muộn có một chút thôi/ (mà) đã kêu oai oái lên (rồi).

2 Trường hợp 2: Lượng lớn đứng độc lập

(3) Những/tận tám chục ngàn.

Qua các ví dụ trên, có thể thấy, những phó từ và trợ từ có vị trí và chỉ hướng ngữ nghĩa (semantic direction) rất rõ rệt đối với lượng chủ quan:

Có/có mỗi chỉ đi với lượng nhỏ và chỉ xuất hiện đầu câu. VD thông thường không thể nói:
*Tám chục ngàn có (mỗi) một quyển sách.
Tuy nhiên có thể nói:
Tám chục ngàn mà mua được có mỗi quyển sách. (buộc phải có động từ – khi đó cấu trúc có/có mỗi + lượng nhỏ sẽ trở thành bổ ngữ object)
(Mà) đã (+ rồi) chỉ ghép với lượng lớn và chỉ có thể xuất hiện ở vế thứ hai. VD thông thường không thể nói:
* Đã tám chục ngàn rồi một quyển sách.
Những/tận luôn đứng trước lượng lớn.
Mà những/mà tận/mà đã ( + rồi) chỉ ghép với lượng lớn và không đứng đầu câu. Việc này do liên từ “mà” quyết định.

3. Trường hợp 3: Lượng nhỏ + lượng đủ

VD:

(4) Vài ngàn đồng – đủ
(4a) (Chỉ (cần)) cho nó vài ngàn đồng (thôi) đủ rồi.
(4b) Cho nó vài ngàn đồng đủ thôi.

(5) Ra ngoài đi dạo – thoáng
(5a) (Chỉ (cần)) ra ngoài đi dạo một chút thoáng ngay thôi.
(5b) (Chỉ (cần)) ra ngoài đi dạo một chút thôi thoáng ngay.

4. Trường hợp 4: Lượng nhỏ đứng độc lập

(6) (Chỉ) có mình nó đến (thôi), không còn ai nữa.

Ta lại có:

Chỉ (cần) + thôi chỉ đi với lượng nhỏ, và đứng đầu câu.
Thôi luôn đứng sau lượng nhỏ hoặc lượng đủ.
Là ( + thôi) luôn đi với lượng đủ, không đứng đầu câu.

5. Tiểu kết: Như vậy có thể thấy, cấu trúc đánh dấu lượng chủ quan trong tiếng Việt có ý nghĩa rất cố định, cho dù vị trí trong câu khác nhau. Không có từ nào vừa đánh dấu lượng lớn, vừa có thể đánh dấu lượng nhỏ (so sánh với từ 就 trong tiếng Hán để thấy rõ vấn đề này). Tuy nhiên cũng có chút vấn đề nảy sinh: đó là sự phân biệt giữa lượng nhỏ và lượng đủ.

Ở ví dụ (1), “một quyển sách” là lượng nhỏ nếu so với giá tiền “tám chục ngàn”, tuy nhiên ngữ cảm người bản xứ cho thấy, cái cần nhấn mạnh ở đây là giá tiền “tám chục ngàn”.

Ở trường hợp 3 còn khó rạch ròi hơn nữa: ở ví dụ (4), nếu cho rằng “vài ngàn đồng” là “đủ rồi”, thì vì lí gì mà coi vài ngàn đồng là lượng nhỏ, còn “đủ” mới là lượng đủ? Sở dĩ tôi (tạm) xếp nó vào lượng nhỏ, vì người nói dù sao cũng có sự so sánh lượng ấy với một lượng nào đó đã được nêu ra trước, hoặc tồn tại trong ý thức. Giả sử ví dụ (4), rất có thể trước đó có người đã cho “nó” hai chục ngàn, hoặc người nào khác cho rằng phải cho vài chục ngàn mới đủ.