Sát thủ đầu mưng mủ và sự trong sáng của tiếng Việt

Một tay sát thủ đầu mưng mủ không ảnh hưởng gì tới sự trong sáng của tiếng Việt!

Cảnh báo: trong bài sử dụng rất nhiều từ ngữ lai căng, thiếu trong sáng. Bạn đọc cần cân nhắc kĩ trước khi đọc bài.

Dẫn ngôn

Một cuốn sách tranh ra đời, có người thấy hay, có người bảo nó phản cảm, có người bảo nó ảnh hưởng tới sự trong sáng của tiếng Việt.

Ngày nay, người ta nói nhiều đến việc “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”, mà theo tôi quan sát thì chủ yếu là chỉ hai việc: thứ nhất, là phản đối việc dùng từ ngoại lai tràn lan; thứ hai, là phản đối ngôn ngữ quá “độc” của tuổi teen. Theo tôi, cần có cái nhìn khách quan và đầy đủ hơn một chút về vấn đề này. Với vốn hiểu biết ít ỏi, tôi xin phép trình bày vài điều nho nhỏ dưới đây, hi vọng giúp ích phần nào cho bạn đọc.

Tranh của họa sĩ Bút Chì

1. Từ ngoại lai trong tiếng Việt

1.1. Điểm mặt từ ngoại lai

Trong tiếng Việt, từ ngoại lai nhiều vô kể, nói riêng về tiếng Hán – Việt đã vào khoảng 40%. Bên cạnh đó còn có những từ ngoại lai đến từ nhiều nguồn gốc khác nhau, VD từ tiếng Kh’me như “hủ tiếu”, đến từ tiếng Anh như “mít tinh”, đến từ tiếng Pháp như “xích lô”, tiếng Hoa Bạch Thoại như “lẩu”, “cà kheo”… Có những từ được Hán hóa trước khi vào tiếng Việt, VD như Pháp, Anh, Mĩ, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, đại bản doanh (bắt nguồn từ tiếng Nhật)… Thậm chí việc phân định rạch ròi đâu là từ thuần Việt đâu là từ ngoại lai cũng muôn vàn khó khăn. “Tim”, “gan” vẫn là cùng nguồn gốc với “tâm”, “can” trong tiếng Hán. “Buồng”, “buồm” là những âm cổ của “phòng”, “phàm” trong tiếng Hán… Đó chỉ là những ví dụ hết sức đơn giản và dễ dàng nhận ra, trên thực tế còn rất nhiều hiện tượng phức tạp chưa thể giải thích cặn kẽ.

1.2. Xu hướng phát triển của từ ngoại lai

Có những từ ngoại lai đã đến và đã “ra đi” trong thanh thản, VD như bây giờ không còn ai nói là “lạp chíu chương” như cụ Nguyễn Tuân ngày xưa nữa, người ta gọi là “tương ớt”. Cũng có những từ ngoại lai gần đây mới du nhập vào tiếng Việt, như IT, game, file… Không hẳn là chúng ta ngày càng sính ngoại, mà xu hướng “đến và đi” của những từ ngoại lai vẫn luôn luôn diễn ra, với mức độ nhiều ít khác nhau.

“Đến” là do ban đầu tiếng Việt ta chưa có từ tương đương để chỉ một khái niệm mới, hoặc do khái niệm đó quá nặng tính dân tộc địa phương, không thể dùng ngôn ngữ khác để biểu đạt nên buộc phải giữ nguyên từ gốc. Tôi lấy ví dụ từ Gestalt trong tiếng Đức, hiện nay giới nghiên cứu tâm lí học và ngôn ngữ học vẫn phải giữ nguyên khái niệm này, vì khó lòng dịch ra được từ nào tương đương và mang đẩy đủ nội hàm như Gestalt.

“Đi” hay “ở” chủ yếu là do nguyên tắc kinh tế của ngôn ngữ: khi có 2 từ đồng nghĩa với nhau, thường thì người ta sẽ lựa chọn từ ngữ nào ngắn gọn dễ hiểu hơn. “Lạp chíu chương” quá dài so với “tương ớt”, nên đã “ra đi”. “Nhiên hậu” quá khó so với “sau này”, “sau đó”, nên đã ra đi. “Gác-đờ-bu” quá dài so với “chắn bùn”, nên đã ra đi. “File” ngắn hơn “tệp tin” nên vẫn ở lại. “Game” ngắn hơn “trò chơi” nên vẫn ở lại. “Teen” ngắn hơn “tuổi học trò” nên vẫn ở lại.

Bên cạnh nguyên tắc kinh tế của bản thân ngôn ngữ, còn có sự tác động vĩ mô của chính quyền, VD như những quy định sử dụng từ ngữ trong báo chí truyền hình cũng góp phần tác động lên cách thức sử dụng từ ngữ của toàn dân.

Dân Việt ở nước ngoài có xu hướng sử dụng từ ngoại lai mạnh mẽ hơn, đến mức độ “code mixing” thường xuyên. Đó không phải vì họ thiếu ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, mà vì có những khái niệm, địa danh ở nước ngoài, nói tiếng nước ngoài là người ta hiểu ngay, còn nếu dịch ra tiếng Việt thì người nghe lại phải mất thêm 1 thao tác tư duy nữa để hiểu. Khi về tới Việt Nam, không còn tiếp xúc với những khái niệm đó nữa, thì tiếng Việt của họ lại trở về (gần như) bình thường.

2. Hiện tượng từ ngữ teen

2.1. Tính xã hội của ngôn ngữ

Ngôn ngữ không đồng nhất. Tùy vào giới tính, độ tuổi, giai tầng, địa vị xã hội, hoàn cảnh giao tiếp… của người sử dụng ngôn ngữ mà ngôn ngữ được sử dụng với những cách khác nhau, sinh ra những từ ngữ khác nhau. Đó là cơ sở để ra đời ngành ngôn ngữ học xã hội. Đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ teen chính là nhân tố độ tuổi.

2.2. Tính cục bộ và nhất thời của ngôn ngữ teen

Cụ già 60-70 tuổi không nói “sao ông ác như con tê giác thế?” hay “ăn chơi sợ gì mưa rơi”. Đó là ngôn ngữ của tuổi teen, của thanh niên. Bản thân teen, cùng với sự tăng lên của tuổi tác, sẽ là sự giảm dần về số lượng từ ngữ teen, mà sẽ hướng về những từ ngữ cộng đồng hơn, gọi là lớp từ ngữ toàn dân. (Các cụ già cũng đã từng có hàng chục năm kinh nghiệm làm teen boy, teen girl đấy chứ đùa đâu!)

Chính vì nhân tố độ tuổi, mà từ ngữ teen rất ít khi gia nhập được lớp từ ngữ toàn dân, và cũng không bền vững, chỉ tồn tại trong một thời gian không dài (vì sẽ được thay thế bằng những từ ngữ teen khác khi teen trở thành cựu-teen). Thái độ của người sử dụng ngôn ngữ cũng sẽ thay đổi theo tuổi tác, cho nên mới có hiện tượng nhiều người phản đối quyển “Sát thủ đầu mưng mủ” đến vậy. Bản thân tôi, tuy theo “chủ nghĩa tự nhiên” nhưng cũng cảm thấy quyển truyện đó là… nhảm nhí. Tuy vậy, tôi không cho rằng việc ra đời một cuốn truyện kiểu này có ảnh hưởng gì nghiêm trọng tới tiếng Việt.

3. Thế nào là giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

3.1. Sự trong sáng của tiếng Việt

Rõ ràng, sự đến và đi của từ ngoại lai là hiện tượng rất tự nhiên của ngôn ngữ. Có thể người Trung Quốc và người Pháp khá bảo thủ trong việc tiếp nhận từ ngoại lai, nhưng người Hàn Quốc và người Nhật lại rất cởi mở. Tiếp nhận bao nhiêu từ ngoại lai và tiếp nhận thế nào, đó là tùy vào đặc điểm tâm lí của dân tộc. Tại sao từ ngoại lai ngày xưa được coi là làm giàu cho tiếng Việt, còn từ ngoại lai ngày nay lại bị gán cho cái tội làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt? Điều đó là không công bằng.

Do nguyên nhân xã hội và nguyên nhân đến từ bản thân cấu trúc ngôn ngữ, mà ngôn ngữ luôn có sự vận động biến đổi không ngừng, từ ngữ mới ra đời, từ ngữ cũ mất đi, ngữ âm bị biến đổi là những hiện tượng bình thường của ngôn ngữ. Đã là những hiện tượng khách quan, thì không thể gán cho từ ngữ mới cái tội làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt được.

Xét cho cùng, “sự trong sáng của tiếng Việt” không phải là một khái niệm vô nghĩa, nó vẫn có cái lí nhất định của nó. Ngôn ngữ sẽ “trong sáng” khi người sử dụng biết vận dụng đúng mục đích, đúng hoàn cảnh, súc tích mà vẫn giàu nội hàm, giàu hình tượng, không thô tục (theo cảm nhận chung của xã hội, cảm nhận riêng của bản thân và của người tiếp nhận nội dung). Còn việc sử dụng từ ngoại lai hay từ mới – từ cũ, từ teen – từ hết teen… không quá quan trọng. Chúng là công cụ, sử dụng công cụ thế nào là việc của người dùng.

3.2. Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

Để đảm bảo sự “trong sáng” như tôi vừa mạn phép nói, ta không cần phải loại bỏ từ ngoại lai (và không thể loại bỏ nó), không cần phải quá mức lên án ngôn ngữ 9x gì đó. Cái cần nhất là định hướng sử dụng ngôn ngữ của Nhà nước, mà theo tôi là có hai việc chính:

Một là nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt và văn học trong trường học, từ bậc phổ thông đến đại học. Việc giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ chỉ có thể làm được dựa trên cơ sở người nói, người viết có hiểu biết đầy đủ về ngôn ngữ đó. Nếu việc giáo dục tiếng Việt được làm tốt, thì từ ngữ teen (teen thế hệ sau) chắc chắn sẽ không gây phản cảm, sẽ thú vị, giàu hình tượng và sâu sắc, biết đâu lúc đó người ta lại ca ngợi?

Hai là có quy định rõ ràng cho ngôn ngữ báo chí, truyền hình, thông qua các kênh truyền thông góp phần định hướng việc sử dụng ngôn ngữ của toàn dân.

Còn về phía cá nhân, mỗi người chúng ta đều có thể tự trau dồi vốn tiếng Việt của mình, đừng để xuất hiện những câu ngớ ngẩn như “chưa đến tuổi vị thành niên” trong lời nói hàng ngày nhé./