Vấn đề chỉ hướng ngữ nghĩa của cấu trúc biểu lượng chủ quan

Như bài trước tôi đã trình bày sơ lược về lượng chủ quan (subjective quantity) trong tiếng Việt, được biểu thị bởi các phó từ và trợ từ “mới”, “đã”, “rồi”, “thôi”. Ở bài đó, tôi đã nói về vấn đề chỉ hướng ngữ nghĩa của các phó từ “mới” và “đã”, và quan điểm của tôi trong bài là, cả 2 đều chỉ hướng sau. Đó là 1 quan điểm đã giản hóa để tiện cho việc phân tích, và tôi cũng đã nhấn mạnh, có thể nhiều người không đồng ý về mặt bản chất. Ở bài này tôi muốn thử tiến hành phân tích sơ lược về mặt bản chất của vấn đề.

Bản chất của phạm trù lượng và lượng chủ quan:

Bản chất của Lượng (quantity) là kết quả của sự so sánh nào đó. Có hơn có kém mới gọi là Lượng. Phạm trù lượng là một phạm trù tư duy rất cơ bản của con người, đó cũng là kết quả của một sự so sánh giữa cái này với cái khác, so sánh trực tiếp hay gián tiếp.

Lượng chủ quan là kết quả của sự đánh giá về một lượng nào đó, sự đánh giá đó mang tính chủ quan. Ta cần phải nói rõ vài vấn đề: thứ nhất, bất cứ sự đánh giá nào về lượng cũng đều mang tính chủ quan, và sự đánh giá về lượng là dựa trên sự so sánh; thứ hai, sự đánh giá đó không nhất thiết phải thể hiện ra bề mặt lời nói; thứ ba, về mặt bản chất thì lượng chủ quan là một sự “định lượng ngầm” được tiến hành trong não bộ.

Về vấn đề bản chất của lượng chủ quan, như ở bài trước tôi đã nêu ra hai quan điểm, trong đó quan điểm thứ hai cho rằng có lượng chủ quan tiềm ẩn và lượng chủ quan biểu kiến. Lượng chủ quan chính là lượng chủ quan tiềm ẩn, còn lượng chủ quan biểu kiến thực chất chỉ là cách thức thể hiện sự đánh giá về lượng thông qua ngôn ngữ mà thôi. Để tiện trình bày, tôi xin lấy lại một ví dụ:

(1) Mới có 4 giờ rưỡi thôi (chưa được về đâu).

Người nói nhận định, 4 giờ rưỡi là sớm, nên sử dụng một dấu hiệu là cấu trúc “mới (có)… thôi”. Lượng chủ quan tiềm ẩn ở đây, chính là “giờ về bình thường phải muộn hơn 4 giờ rưỡi”; lượng chủ quan biểu kiến là “4 giờ rưỡi sớm hơn giờ về thường lệ”. Về mặt bản chất, câu này có một sự so sánh tiềm ẩn, so sánh cái lượng được đưa ra trong câu (4 giờ rưỡi) với cái lượng mà người nói cho rằng là bình thường (giờ về phải muộn hơn 4 giờ rưỡi – chẳng hạn như 5 giờ), nhưng sự so sánh đó không được thể hiện ra trong câu.

(2) Mới có 4 giờ rưỡi mà đã về à?

Trong ví dụ này, sự so sánh được thể hiện ra trong câu, nhưng là so sánh gián tiếp. “4 giờ rưỡi” so với “về” là sớm, nên người nói sử dụng cấu trúc “mới (có)… (mà) đã…”. “Về” vốn là chỉ hành động, không phải chỉ lượng, ở đây động từ “về” gợi nhắc đến lượng chủ quan tiềm ẩn, đó là “giờ về thông thường phải muộn hơn 4 giờ rưỡi”.

(3) Mới có 4 giờ rưỡi mà đã về à, sao tưởng 5 giờ mới được về cơ mà?

Ở ví dụ (3), người nói đã nói rõ sự so sánh của mình trong câu, đưa ra cả lượng chủ quan biểu kiến lẫn lượng chủ quan tiềm ẩn, khi này “lượng chủ quan tiềm ẩn” (5 giờ) biến thành lượng hơn, còn “4 giờ rưỡi” là lượng kém. Sở dĩ người nghe biết đâu là lượng hơn đâu là lượng kém vì có những dấu hiệu ngữ pháp như cấu trúc “mới… đã…”, “…mới được…”.

Cần phải nói rõ rằng, những dấu hiệu ngữ pháp này thực chất là để đánh dấu sự so sánh (giữa 4 rưỡi và 5 giờ), người lập mã (code) so sánh trong tư duy trước, rồi sử dụng dấu hiệu ngữ pháp để biểu đạt, còn người giải mã (decode) tiếp nhận dấu hiệu ngữ pháp trước, rồi biên dịch lại ra sự so sánh và rút ra kết luận về lượng.

Chỉ hướng ngữ nghĩa của cấu trúc biểu lượng chủ quan:

Cấu trúc biểu lượng chủ quan chỉ hướng trước hay chỉ hướng sau? Phó từ “mới”, “đã” chỉ hướng trước hay chỉ hướng sau? Rõ ràng, trong những câu như ví dụ (1), (2) hay (3), dấu hiệu biểu đạt lượng chủ quan không phải của riêng phó từ, mà của cả cấu trúc. Lượng chủ quan được biểu đạt bằng cả số lượng biểu kiến (4 giờ rưỡi, 5 giờ), bằng cả động từ (về), bằng cả cấu trúc phó từ – trợ từ (mới… thôi), chứ không đơn thuần biểu thị bằng cấu trúc phó từ – trợ từ. Chẳng qua ở bài trước, chúng ta chỉ tập trung phân tích phó từ mà thôi.

Ở đây, không có thành phần nào là “hình” (figure) nổi trội, không có thành phần nào là “nền” (background), tất cả đều đóng vai trò như nhau (trái với ngữ pháp chủ nghĩa kết cấu truyền thống, cho rằng thông tin chủ yếu đến từ thực từ). Thiếu dấu hiệu so sánh (phó từ – trợ từ) hay thiếu đối tượng so sánh (4 giờ rưỡi) đều không được. Dấu hiệu so sánh đó cũng khó có thể nói là đích thực chỉ hướng ngữ nghĩa vào đâu, mà tác động lên toàn bộ diễn ngôn. Nói cách khác, đó là một sự tác động phi tuyến tính.

Bài trước, tôi giả thiết rằng phó từ “mới”, “đã” chi hướng sau (tác động tuyến tính), như vậy thao tác phân tích trở nên rất đơn giản, tuy nhiên cũng gặp phải một vấn đề: đó là phải mở rộng khái niệm “lượng chủ quan”, cho rằng “lượng chủ quan” bao gồm cả những lượng trừu tượng, tiềm ẩn (ví dụ như lượng thời gian tiềm ẩn trong động từ “về”). Nếu đi sâu phân tích lượng chủ quan, chắc chắn sẽ gặp không ít vấn đề, và thao tác phân tích lượng chủ quan trừu tượng, tiềm ẩn sẽ phức tạp hơn nhiều so với việc phân tích lượng chủ quan được biểu thị trực tiếp bằng số lượng từ.

Nhưng nếu coi như cả cấu trúc phó từ – trợ từ tác động phi tuyến tính lên diễn ngôn, thì lại vấp phải vấn đề về thao tác phân tích, khi đó buộc phải coi những diễn ngôn biểu đạt lượng chủ quan là một chỉnh hợp không thể phân tách của nhiều yếu tố, những yếu tố này không tập hợp một cách đơn giản với nhau, mà có tác động qua lại lẫn nhau, để cùng biểu đạt ý nghĩa lượng chủ quan, chỉnh hợp này có thể coi là một Gestalt./