Vấn đề về d, gi và r trong chính tả Quốc ngữ tiếng Việt

Trong phương ngữ Hà Nội và một số vùng Bắc Bộ, không có sự phân biệt giữa d, gi và r trong cách đọc. Ví dụ người Hà Nội nói “rõ ràng” thành “dõ dàng”, “giành giật” thành “dành dật”… Nếu lấy giọng Hà Nội làm chuẩn, thì có thể nói đây là một sự lãng phí trong hệ thống chữ viết, nhưng không vì thế mà có thể dễ dàng loại bỏ gi và r trong hệ thống.

Tại sao lại d?

Sự phân biệt 3 cách ghi này, đại khái có từ khi A. de Rhodes nghiên cứu tiếng Việt và soạn bộ từ điển Việt – Bồ – La, tất nhiên thời đó có khác biệt đôi chút.

Vì sao lại lấy chữ “d” ghi cho âm [z]? Thông thường, chữ cái “d” trong hệ thống chữ La-tinh được dùng để ghi một phụ âm gốc răng – đầu lưỡi. Trong hệ thống phụ âm tiếng Việt, có các âm đ, t, th, n, l và r trong 1 số phương ngữ. Vậy chính đáng nhất có lẽ là dùng “d” thay cho “đ” hiện tại, còn âm mà chúng ta ghi “d” trong chữ Quốc ngữ, có thể ghi bằng “z”.

Tuy nhiên, không phải ngẫu nhiên mà những người dùng chữ La-tinh ghi âm tiếng Việt dùng chữ d để ghi, vì hồi đó (thế kỉ XVI), âm này được đọc là [*ðj], có vẻ như một âm tắc xát gốc răng – đầu lưỡi (?). Có lẽ điều đó cũng giải thích vì sao một số từ gốc Hán thuộc thanh mẫu Đoan – Định lại bị biến đổi thành [z], chẳng hạn như từ “dao” (con dao, dao găm) trong tiếng Việt bắt nguồn từ “đao” trong tiếng Hán.

Tại sao lại r?

Một bằng chữ rõ ràng là, không chỉ miền nam, mà vùng Nam Định, Thái Bình ở miền Bắc vẫn đọc chữ “r” như một âm rung thực sự. Ở một số vùng miền Trung, “r” được đọc thành [ʐ]. Không có từ Hán Việt nào bắt đầu bằng r, những từ ngữ bắt đầu bằng “r” phải có nguồn gốc khác.

Tuy nhiên, hiện nay ở trong tiếng Hà Nội, âm rung “r” đã mất. Sự biến mất này là theo xu hướng chung của phương ngữ miền Bắc: chuyển vị trí phát âm về phía trước. Trong xu hướng này, “tr” cũng đã biến mất, chỉ còn lại “ch”, “s” cũng đã trở thành “x”. Việc bộ chính tả chuẩn vẫn ghi những âm đó, là do sự biến mất này xảy ra sau khi chính tả đã ổn định (theo Hoàng Thị Châu), hoặc có thể là do từ thời A. de Rhodes, người ta đã ghi chép từ nhiều địa phương khác nhau, trong đó bao gồm những địa phương vẫn giữ cách đọc “r” (theo Đoàn Thiện Thuật). Bản thân tôi nghiêng về giả thuyết thứ nhất, bởi lẽ: việc ghi âm của nhiều vùng miền là có thật trong từ điển của A. de Rhodes, nhưng chí ít là một số lượng không nhỏ các từ như thế đều được ghi bằng nhiều âm khác nhau. Rất tiếc, tôi không có cuốn từ điển Việt – Bồ – La của ông trong tay để so sánh đối chiếu!

Tại sao lại gi?

“g” nên dùng để ghi một âm xát gốc lưỡi, vậy thì gi cũng nên dùng để ghi một âm có tính chất tương tự thế. Hiện nay tuy có vài địa phương phân biệt “d” và “gi”, nhưng tựu chung vẫn là âm ở bề mặt lưỡi chứ không phải gốc lưỡi. Có thể trước đây thực sự là người ta đã đọc một âm gốc lưỡi, kèm thêm một âm đệm i hoặc j như thế, nên mới xuất hiện cách ghi “gi”. Điều này cũng có thể giải thích vì sao những chữ Hán thanh mẫu Kiến (k) nhị đẳng lại bị biến đội thành “gi”, trong khi nhất, tam, tứ đẳng không bị biến đổi (VD chữ Giang江 là nhị đẳng – đọc thành “gi” [z], nhưng Cải改 là nhất đẳng thì vẫn đọc “c” [k]). Đó là vì những chữ nhị đẳng có một âm đệm nào đó gần với [i] (có thể là [j] hoặc [ɪ]). Ngày xưa chắc những chữ mẫu Kiến nhị đẳng này được đọc với một phụ âm gốc lưỡi (ghi bằng “g”) và một âm đệm hẹp (ghi bằng “i”), nên mới thành “gi”, sau đó xảy ra quá trình biến đổi ngữ âm, làm âm đệm biến mất, âm gốc lưỡi trở thành một âm mặt lưỡi.

Ngoài ra, có thể khảo sát một hiện tượng thú vị nữa, đó là “gi” bắt nguồn từ “bl” (và sau đó tiếp tục bị biến thành “tr”, nhưng nhiều nơi vẫn giữ cách đọc “gi”): blời >> giời (trời); blăng >> giăng (trăng); blai >> giai (trai); blầu >> giầu (trầu)…Nhưng có lẽ đây là âm “gi” xuất hiện sau này, chứ thời A. de Rhodes thì vẫn thấy đọc là blời.

Còn lại những trường hợp khác, có lẽ từ xưa vẫn đọc là [z] hoặc [j], sau này người ta mới ghi âm là “gi” chứ thời kì đâu chưa được ghi âm “gi”. Có một số từ, ngày xưa ghi là “gi” nay cũng đã sửa thành “d”, ví dụ như “giòng”, nay sửa thành “dòng” (dòng sông, dõng dõi…). Nhưng chuyện này, như tôi đã nói, tôi không có cuốn từ điển Việt – Bồ – La trong tay, nên không lấy gì làm chắc cả.

Kết luận:

3 cách ghi “d”, “gi” và “r” có nguồn gốc khác nhau, và khá phức tạp. Chính tả chữ Quốc ngữ hiện nay thể hiện điều đó. Và, tuy rằng ngữ âm Hà Nội không còn phân biệt 3 âm đó (cũng như “tr”, “ch” hay “s”, “x”), nhưng nhiều vùng miền khác trên đất nước vẫn có phân biệt, và 3 cách ghi đó còn có tác dụng phân biệt từ nguyên. Về vấn đề chuẩn hóa chính tả, có nhiều ý kiến khác nhau, như thầy Đoàn Thiện Thuật thì cho rằng những âm mà tiếng Hà Nội không còn phân biệt thì có thể nhập làm một để tránh lãng phí. Nhưng việc đó là khó thực hiện, một là vì nhiều địa phương còn phân biệt, làm vậy sẽ có thể phá hoại hệ thống ngữ âm địa phương, mất đi một di sản ngôn ngữ quý giá của tiếng Việt, đó là tiếng địa phương; hai là vì hệ thống chính tả đã ổn định, việc cải cách phải làm rất lâu dài và được sự ủng hộ cao độ của xã hội.

Lại có ý kiến (chủ yếu là tầng lớp trí thức trung niên miền Bắc) muốn ghi chính tả thế nào thì phải đọc thế ấy, tức là “rõ ràng” không được đọc thành “dõ dàng”… Đó là ý muốn chủ quan, mà ý muốn chủ quan thì không thể chống lại quy luật biến đổi ngữ âm khách quan đã diễn ra cả trăm năm nay. Hơn nữa đó cũng chỉ là tương đối, vì thực ra bản thân hệ thống chữ Quốc ngữ ta cũng không hẳn là một hệ thống hoàn hảo, nó chứa trong mình rất nhiều thiếu sót, hạn chế.

Trên đây chỉ là vài suy nghĩ khi đọc sách, chưa có điều kiện để khảo sát cụ thể và đưa ra kết luận chính xác. Có gì sai sót xin độc giả lượng thứ, cũng kính mong các bậc tiền bối chỉ bảo.

Chú thích: âm vị ghi theo phiêm âm quốc tế được đặt trong dấu ngoặc vuông [], còn ghi theo chính tả Quốc ngữ thì trong ngoặc kép “” hoặc không đặt trong ngoặc. Dấu sao * biểu thị âm đọc cổ giả thiết.

Xem thêm:

  • Hoàng Thị Châu, Phương ngữ học tiếng Việt
  • Trần Trí Dõi, Giáo trình lịch sử tiếng Việt
  • Nguyễn Tài Cẩn, Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt
  • Đoàn Thiện Thuật, Ngữ âm tiếng Việt