Thôn cư thư hỉ (Lục Du)

mai村居書喜

陸遊

紅橋梅市曉山橫,
白塔樊江春水生。
花氣襲人知驟暖,
鵲聲穿樹喜新晴。
坊場酒賤貧猶醉,
原野泥深老亦耕。
最喜先期官賦足,
經年無吏叩柴荊。

Âm Hán Việt:

Hồng kiều mai thị hiểu sơn hoành,
Bạch tháp Phàn giang xuân thủy sinh.
Hoa khí tập nhân tri sậu noãn,
Thước thanh xuyên thụ hỉ tân tình.
Phường trường tửu tiện bần do túy,
Nguyên dã nê thâm lão diệc canh.
Tối hỉ tiên kì quan phú túc,
Kinh niên vô lại khấu sài kinh.

* Về 2 câu cuối bài: nhiều người thắc mắc ba chữ “khấu sài kinh”, không rõ là ý gì, nay xin giải thích tường tận như sau:

“Khấu” là gõ (khấu đầu: dập đầu xuống đất), “sài kinh” là chỉ cánh cửa ở nhà quê, dùng củi dùng gai mà làm thành, rất sơ sài. “Khấu sài kinh” đơn giản là “gõ cửa”. Đỗ Phủ có câu thơ:

Khu kê thượng thụ mộc驅雞上樹木
Thủy văn khấu sài kinh始聞叩柴荊
(Đuổi gà lên cây gỗ, mới nghe tiếng gõ cửa)

(Bài thứ 3 trong “Khương thôn tam thủ”)

“Kinh niên” là nhiều năm. Liễu Vĩnh có câu:

Thử khứ kinh niên,此去經年
Ưng thị lương thần hảo cảnh hư thiết應是良辰好景虛設
(Lần này ra đi bao năm, bao nhiêu cảnh đẹp chỉ là hư ảo)

(Vũ lâm linh)

“Kinh niên vô lại khấu sài kinh” hiểu theo mặt chữ là “nhiều năm nay không thấy có quan lại đến gõ cửa”. “Lại” là chức quan nhỏ, quan nhỏ mới đến gõ cửa nhà dân, chứ quan to thì không đến từng nhà dưới quê mà gõ cửa được. Nhưng gõ cửa để làm gì? Gõ cửa để thu thuế! Thơ Lục Du có nhiều bài ca ngợi cuộc sống đầy đủ, quan lại (đúng ra là “nhân viên thuế quan”) ít phải đến gõ cửa từng nhà để giục nộp thuế, vì thuế khóa luôn đầy đủ. Một bài thất tuyệt cũng tên là “Thôn cư thử hỉ” của Lục Du cũng có câu:

Lí môn hãn kiến lại trưng tô里门罕见吏征租
(Cửa làng ít thấy quan đến trưng thu tô thuế)

Kết hợp với câu trên (Tối hỉ tiên kì quan phú túc), thì thấy “quan phú” (thuế đóng cho nhà quan) ngày trước rất đầy đủ, cho nên mới “Kinh niên vô lại khấu sài kinh” (Mấy năm không thấy quan đến gõ cửa giục nộp thuế).