Vũ lâm linh (Liễu Vĩnh)

雨霖铃雨霖鈴

柳永

寒蟬淒切
對長亭晚驟雨初歇。
都門帳飲無緒。
留戀處蘭舟催發。
執手相看淚眼,
竟無語凝噎。
念去去,
千里煙波。
暮靄沉沉楚天闊。

多情自古傷離別,
更那堪冷落清秋節?
今宵酒醒何處?
楊柳岸曉風殘月。
此去經年,
應是良辰好景虛設。
便縱有千種風情,
更與何人說?

Âm Hán Việt:

Vũ Lâm Linh
(Liễu Vĩnh)

Hàn thiền thê thiết,
Đối trường đình vãn sậu vũ sơ yết.
Đô môn trướng ẩm vô tự,
Lưu luyến xứ, lan chu thôi phát.
Chấp thủ tương khán lệ nhãn,
Cánh vô ngữ ngưng yết.
Niệm khứ khứ,
Thiên lý yên ba.
Mộ ái trầm trầm, Sở thiên khoát.

Đa tình tự cổ thương li biệt,
Cánh na kham lãnh lạc thanh thu tiết?
Kim tiêu tửu tỉnh hả xứ?
Dương liễu ngạn hiểu phong tàn nguyệt.
Thử khứ kinh niên,
Ưng thị lương thần hảo cảnh hư thiết.
Tiện túng hữu thiên chủng phong tình,
Cánh dữ hà nhân thuyết?

Dịch nghĩa:

Ve mùa lạnh kêu da diết,
Trước trường đình muộn cơn mưa vừa dứt.
Cổng thành uống rượu chẳng khuây.
Đương lưu luyến, thuyền lan đã giục.
Cầm tay nhau nhìn lệ chảy,
Mà chẳng nói nên lời.
Nhớ người đi,
Ngàn dặm khói sóng.
Mây chiều nặng nặng, trời nam bát ngát.

Xưa nay đa tình khổ vì li biệt,
Càng buồn hơn vào lúc trời thu lạnh lẽo.
Đêm nay rượu tỉnh nơi nao?
Bờ dương liễu trăng tàn gió sớm.
Lần này ra đi biết bao năm,
Cảnh đẹp cũng chỉ còn là hư ảo.
Dù ta có trăm mối phong tình,
Cũng biết tỏ cùng ai?