Cạnh tranh và phát triển

Nhân lúc soạn một ít tài liệu về lịch sử Việt Nam, có tìm hiểu một vài vấn đề về sự phát triển của dân tộc thời nguyên thủy, thiết nghĩ cũng khá thú vị nên muốn chia sẻ với mọi người tại đây.

Trước hết, điều đầu tiên phải nói rằng, cái gọi là “lịch sử Việt Nam” thời kì này, thực tế là lịch sử của nhóm cư dân sinh sống tại khu vực hiện giờ là nước Việt Nam. Lịch sử nhóm cư dân này có liên hệ mật thiết với các nhóm cư dân lân cận, bao gồm vùng Đông Nam Á và lưu vực phía Nam sông Trường Giang hiện tại. Các sách lịch sử giáo khoa đều có nói đến, nhưng ít khi có sự so sánh với các nền văn hóa lân cận, hoặc xa xôi hơn một chút như vùng Lưỡng Hà chẳng hạn. Vì thiếu sự so sánh, nên ta cũng khó hình dung ra vấn đề rằng, thực sự thì nền văn hóa ở vị trí nước ta hiện tại nó như thế nào so với thế giới cùng thời kì đó. Một số sách dùng cụm từ “văn minh sông Hồng”, có lẽ là nói hơi quá – nhưng tạm thời, khái niệm “văn minh” cũng là khái niệm phức tạp, tôi không muốn đề cập tới khi chưa tìm hiểu cặn kẽ, ở đây chỉ so sánh đôi chút với các nền văn hóa khác mà thôi.

1. Nông nghiệp

Có thể tính nghề nông sớm nhất vào thời kì cư dân bắt đầu biết trồng vài loại cây đơn giản, việc này thì cư dân thuộc văn hóa Sơn Vi (33.000 – 11.000 năm trước) đã biết làm. Tuy vậy, để cộng đồng phát triển được, thì nông nghiệp cần thực hiện tập trung với năng suất cao hơn. Đông Nam Á là vùng trồng lúa nước lớn nhất trên thế giới ngày nay, nhưng không phải nơi đầu tiên trồng lúa nước. Ở vùng Việt Nam, lúa nước sớm nhất được tìm thấy ở nền văn hóa Đa Bút (khoảng năm 6000 – 5000 tr.CN). Nhưng hạt lúa trồng đầu tiên trên thế giới thì tìm được ở di chỉ Điếu Thống Hoàn (huyện Vạn Niên, tỉnh Giảng Tây, Trung Quốc) (Diaotonghuan), di chỉ này có niên đại vào khoảng năm 12.000 – 9.000 tr.CN.

Nông nghiệp phát triển là một tiền đề quan trọng để xã hội phát triển. Khi lương thực đã dư thừa và có tích trữ, một số người sẽ chuyển hẳn sang nghề khác, như làm gốm hoặc luyện kim. Nhờ sự tập trung chuyên môn, những nghề thủ công đó mới phát triển, và sự trao đổi hàng hóa mới được tăng cường, đồng thời khi của cải dư thừa thì sẽ xuất hiện chiếm hữu, và xuất hiện giai cấp. Khi có giai cấp, thì có thể hình thành quốc gia và chính trị.

2. Kim khí

Đây là vấn đề quan trọng. Thông thường thì người ta chia thời kì đồ kim khí làm 2: thời kì đồ đồng và thời kì đồ sắt. Đồ sắt có ưu thế rõ ràng hơn so với công cụ đồng. Với việc sử dụng công cụ sắt, của cải trong xã hội lại tiếp tục dư thừa hơn nữa. Chính đồ sắt đã kích thích các cuộc cách mạng phá bỏ chế độ chiếm hữu nô lệ, để chuyển sang chế độ phong kiến.

Ví dụ như thời Xuân Thu Chiến Quốc, khi đồ sắt đã phát triển, quan hệ sản xuất cũ (thiên tử ăn tô thuế của chư hầu cống nộp) đã không còn phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất (khi các chư hầu đã quá lớn mạnh). Do mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất, chiến tranh đã nổ ra, nhà Chu hoàn toàn suy yếu và mất hẳn. Nước Tần với sự lớn mạnh của mình, đặc biệt là trong kĩ thuật rèn vũ khí sắt, đã tiêu diệt sáu nước còn lại và thống nhất vùng Trung Nguyên vào năm 221 tr.CN, lập nên triều đại phong kiến thống nhất đầu tiên tại Trung Hoa.

Đó là chuyện ở Trung Hoa, thế còn ở lưu vực sông Hồng? Cùng khoảng thời kì đó, là văn hóa Đông Sơn (khoảng năm 800 – 100 tr.CN). Nhưng văn hóa Đông Sơn vẫn là văn hóa của thời kì đồng thau. Tuy kĩ thuật đúc đồng của cư dân Đông Sơn đã lên đến đỉnh cao, nhưng vẫn gần như không có đồ sắt.

Lẫy nỏ đồng Đông Sơn
Lẫy nỏ đồng Đông Sơn

3. Sự phát triển của xã hội

Ta có thể thấy rất rõ việc không có đồ sắt khiến cho xã hội Đông Sơn phát triển chậm chạp thế nào so với thế giới. Trong khi Trung Hoa đã hình thành nhà nước, có văn tự hoàn chỉnh, có chế độ cai trị, có pháp luật, có các triết thuyết lớn, thì xã hội Đông Sơn mới manh nha mô hình nhà nước Văn Lang. Khi các nước thời Xuân Thu Chiến Quốc đã xây dựng cung điện, đền đài, thành quách to lớn bằng đá (sau này Tần Thủy Hoàng cho nối các đoạn tường thành của các nước lại với nhau, xây nên Vạn Lí Trường Thành), đã hình thành các đô thị sầm uất, thì nhà nước Âu Lạc đang còn xây một tòa thành đất với nền được gia cố bằng vỏ trai ốc – thành Cổ Loa.

So sánh xa hơn một chút, năm 1894 tr.CN, nhà nước Babylon độc lập đã ra đời ở vùng Lưỡng Hà. Đến thời kì vua Hammurabi (1792 – 1750 tr.CN), Babylon thực sự trở thành một cường quốc, một trung tâm văn hóa, kinh tế lớn. Khi đó, tại lưu vực sông Hồng, cư dân Việt cổ mới bắt đầu có tích trữ lương thực và chuyển sang làm một số nghề thủ công.

Di chỉ thành cổ Babylon
Di chỉ thành cổ Babylon

Ngay cả Cổ Loa, hoặc Phong Châu thời kì vua Hùng (nếu thời đó có thật), liệu có phải là đô thị cổ không? Cổ Loa là một tòa thành đất khá bé, được làm với mục đích phòng thủ quân sự là chính. Còn kinh đô Phong Châu, hiện giờ có quá ít di vật khảo cổ để xác định chắc chắn. Cứ cho là nhà nước Văn Lang của các vua Hùng tương đương với thời kì Tây Chu, thì thậm chí giáo sư Hà Văn Tấn vẫn cho rằng, Văn Lang chỉ là một “cái làng lớn” – nó chưa thể hình thành một thể chế chính trị đầy đủ như Trung Hoa hay Babylon, vì tính giai cấp rất yếu.

4. Vấn đề là, tại sao lại thế?

Vấn đề rất rõ ràng: thiếu cạnh tranh thì thiếu phát triển. Cư dân ở vùng sông Hồng là quá ít so với lưu vực Hoàng Hà hay Lưỡng Hà. Ngoài ra, rất có thể khu vực này chịu ảnh hưởng nhiều của thời kì biển tiến Holocene trung, dân cư sống co cụm trong khoảng đất nhỏ hẹp nhưng vẫn bị quá tải, do đó sự giao lưu ít, tích trữ chậm và kết quả là xã hội phát triển chậm. Sau thời kì biển tiến đó, cư dân mới có điều kiện phát triển ở đồng bằng và hình thành làng xã. Trong khi đó, ở sâu trong lục địa, cư dân vùng Trung Nguyên đông đúc và không chịu ảnh hưởng nhiều của biển tiến, nên xã hội có điều kiện phát triển.

Do điều kiện địa hình và do đặc tính nông nghiệp, sự giao lưu giữa các nhóm cư dân tại lưu vực sông Hồng vẫn khá ít, ngay cả sau thời kì biển tiến. Tuy cách đây 6000 – 5000 năm, cư dân đã trao đổi vật phẩm và có cả tiền cổ, nhưng sự buôn bán nhìn chung vẫn kém phát triển so với Trung Hoa. Khoảng thời kì Đông Sơn, Trung Nguyên đã có những nhà buôn lớn, tiêu biểu như Lã Bất Vi.

Ngoài ra, dân số đông, lực lượng sản xuất phát triển thì sẽ nảy sinh mâu thuẫn xã hội, và kết quả là chiến tranh. Chiến tranh dù có xấu xa đến mấy thì vẫn có một tác dụng rõ ràng, đó là kích thích sự phát triển của xã hội. Vũ khí đồng tìm được ở lưu vực sông Hồng thường được làm tinh xảo, nhưng vũ khí càng tinh xảo thì càng… ít ra chiến trường, mà chắc chủ yếu để tế lễ. Nếu so sánh với vũ khí, chiến xa nước Tần thì quả là một trời một vực. Vì ít chiến tranh, nên tổ chức nhà nước, tổ chức quân đội cũng trở nên đơn giản. Thời kì Xuân Thu Chiến Quốc là thời kì chiến tranh liên miên. Nhà nước Babylon từ trước khi thành lập cũng đã xảy ra rất nhiều chiến tranh.

Chỉ khi sự giao lưu và cạnh tranh được đẩy lên cao, thì kinh tế, xã hội của nước Việt cổ mới có bước chuyển mình to lớn. Không thể phủ nhận quá trình phát triển mạnh mẽ về mặt xã hội, văn hóa của Giao Chỉ trong thời kì Bắc thuộc, và sự phát triển rất mạnh về quân sự thời kì Tiền Lê – Lý của Đại Việt. Thời kì Lê Sơ, sự giao lưu cũng làm kinh tế xã hội phát triển vượt bậc, đạt đến thời kì cực thịnh của xã hội phong kiến Việt Nam. Cuối cùng là thời kì phát triển vũ khí chiến tranh giai đoạn Trịnh Nguyễn phân tranh và Tây Sơn.

Tham khảo thêm:

Ngô Sĩ Liên: Đại Việt sử ký toàn thư
Phan Huy Lê chủ biên: Lịch sử Việt Nam
Trần Ngọc Thêm: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Trần Quốc Vượng: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tư Mã Thiên: Sử ký