(Ghi chép bài giảng của giáo sư Lý Hoằng Tường – Đại học Sư phạm Hoa Đông, Trung Quốc)

Dẫn ngôn

Jürgen Habermas từng cho rằng, xã hội và chính trị hiện thời đang có xu hướng “tái phong kiến hóa”.  Nói đến “phong kiến” là nói đến những tính chất như “nô dịch”, “mất tự do”, “bảo thủ”, “giáo điều”… Hiện nay gần như đã không còn tồn tại chế độ phong kiến, vậy vì sao một nhà triết học Đức đương đại lại cho rằng xã hội đang “tái phong kiến hóa”?

Ông cho rằng, phong kiến thời xưa là hình thái nô dịch và kiểm soát bên ngoài, dùng những công cụ bên ngoài để cai trị con người. Còn ngày này, phong kiến hóa là quá trình từ bên trong con người, con người bị chính những vật chất và công nghệ hiện đại nô dịch, nguy hiểm hơn là, chúng ta hoàn toàn không hay biết, và vẫn coi đó là chuyện thường. Giả sử như ta gặp một vụ đánh lộn trên tàu, có thể có người sẽ lấy điện thoại quay lại, ý nghĩ của họ là, đây là hành động tự do cá nhân. Nhưng khi họ đưa clip đó lên mạng, nó trở thành thứ chia sẻ chung trong cộng đồng, không còn tự do cá nhân nữa, mà là sự xâm phạm quyền riêng tư của người khác. Đó chính là một hình thức tự nô dịch. Hoặc như một số người lo sợ, rất có thể đến ngày nào đó, trí tuệ nhân tạo (AI) phát triển vượt bậc, chưa cần AI phải nô dịch loài người một cách có ý thức, có lẽ loài người đã trở nên hoàn toàn phụ thuộc vào AI từ lúc nào không hay.

Thế kỉ XVIII, phong trào Khai sáng với những Voltaire, Decartes, Diderot… được sinh ra vốn có mục đích là để chống lại tư tưởng phong kiến đương thời ở châu Âu. Vậy ngày nay, nếu coi xã hội đang có xu thế “tái phong kiến hóa”, ta có thể đi tìm lại những nhân tố có lợi trong phong trào Khai sáng để giải quyết vấn đề hay không?

 

Denis Diderot (1713-1784): nhà triết học Khai sáng, nhà văn

Câu trả lời là rất mâu thuẫn. Triết học Khai sáng, nằm trong một thời kì lớn hơn, gọi là thời đại lý tính (Age of Reason), chủ trương lấy khoa học để soi đường, chống lại những thứ mà họ coi là mê tín, phi lý, độc hại do giáo hội áp đặt. Nhưng thời đại này là thời đại lý tính đã phát triển đến cực đoan, sự “tái phong kiến hóa” lại bắt nguồn từ chính khoa học. Vậy triết học Khai sáng có thể làm gì được?

Câu trả lời thật đặc biệt, và đúng là đã có từ thời kì triết học Ánh sáng: văn học sẽ cứu rỗi chúng ta. Triết học ngày càng trở nên thuần túy, ngày càng cố gắng tập trung trả lời những câu hỏi lớn về bản chất thế giới, thì càng khó để trả lời những câu hỏi cụ thể ngay trong từng con người. Những lĩnh vực cụ thể (và có phần vụn vặt) đó, triết không không đả động đến, nhưng văn học thì có. Như vậy có nghĩa là, không thể coi văn học như một ngành nằm dưới triết học, mà cần coi văn học như thứ ngang hàng, thậm chí đối kháng với triết học.

 

Tính chân thực trong quan niệm tiểu thuyết hiện đại

“Tính chân thực” trong tiểu thuyết có nhiều hàm ý, không phải để ngụ ý rằng câu chuyện được kể đã xảy ra ngoài đời thực. Tính chân thực vào thời kì La Mã có thể chỉ tính chân thực của thần thánh, vào thời kì Phục Hưng có thể chỉ tính chân thực của chủ nghĩa thực chứng. Tính chân thực có thể là miêu tả con người chân thực, sự phát triển tâm lí nhân vật chân thực… Hoặc theo quan điểm của Marx và Engels thì, tính chân thực phải được thể hiện ở sự miêu tả về bản chất của giai cấp trong bối cảnh lịch sử chứ không chỉ có những miêu tả vụn vặt bề ngoài.

Theo quan niệm thông thường, tiểu thuyết mang tính chân thực, tiểu thuyết cần có bối cảnh, tình tiết đầy đủ. Có thể thấy những tiểu thuyết lớn của phương Tây đều mang đặc điểm đó: Câu Chuyện Mười Ngày của Giovanni Boccaccio, Gargantua và Pantagruel của François Rabelais, Don Quixote của Cervantes, Robinson Crusoe của Daniel Defoe… Tính chân thực gần như là tiêu chuẩn cho tiểu thuyết hiện đại.

Tuy vậy, cũng có những tiểu thuyết rất kì lạ, thoát khỏi tính chân thực, đẩy tình tiết xuống hàng thứ yếu, đẩy phần nghị luận lên làm nguyên liệu chính, độc giả sẽ rất khó khăn nếu muốn dò tìm mạch truyện, vì mạch truyện bị cắt vụn bởi những đoạn nghị luận của tác giả. Có thể kể tới tiểu thuyết Cuộc Đời Và Kiến Giải Của Quý Ngài Tristram Shandy (The Life and Opinions of Tristram Shandy, Gentleman) của Laurence Sterne, và cuốn Jaques – Kẻ Theo Thuyết Thiên Mệnh Và Chủ Nhân Của Hắn (Jacques le fataliste et son maître) của Denis Diderot. Hai tác phẩm trên tuy được sáng tác cách đây 2-3 thế kỉ, nhưng có thể coi là tiền thân của tiểu thuyết theo chủ nghĩa hậu hiện đại. Tác giả ý thức được vấn đề lớn của triết học: những triết thuyết nêu ra cũng chỉ là một khả năng mà thôi.

Diderot: vừa là nhà triết học, vừa là nhà văn

Như trên đã nói, nếu muốn văn học cứu rỗi thế giới, cần coi văn học là một thứ gần như có tính đối kháng với triết học. Vậy Diderot, với tư cách là một nhà triết học kiêm nhà văn, ông có nghiêng theo phe nào không?

Chúng ta vẫn nghĩ rằng những học giả hay những nhà triết học luôn có một tư tưởng xuyên suốt, không thay đổi, áp dụng vào mọi hành động của mình. Triết thuyết của Diderot là thuyết duy vật, vô thần luận. Trong vấn đề văn học, cũng có những bằng chứng cho thấy ông là người theo thuyết duy vật. Diderot liên tục ca ngợi tính chân thực trong tiểu thuyết của Samuel Richardson. Hegel ca ngợi tiểu thuyết Người Cháu Của Rameau (Le Neveu de Rameau) của Diderot là một kiệt tác về phương pháp biện chứng (tuy vậy, lát nữa chúng ta sẽ nói đến tác phẩm này sau). Có vẻ Diderot là người kiên trì quan điểm duy vật.

Nhưng bản thân ông trong một bức thư đã tỏ ra hoang mang khi nói tới vô thần luận. Ông cho rằng những người vô thần chia làm ba loại: một loại tuyệt đối không tin vào Chúa Trời, một loại hoài nghi sự tồn tại của Chúa Trời, một loại chỉ tỏ vẻ không tin nhưng luôn cầu xin nơi Chúa Trời; cả ba loại đấy đều có vấn đề. Bản thân ông là người vô thần, nhưng ông cũng tự thấy nếu không có niềm tin tôn giáo thì có vẻ không ổn. Tiểu thuyết của ông cũng chứa đựng những sự biện chứng mâu thuẫn (phân tích bên dưới) chứ không tỏ ra giàu tính chân thực như xu hướng chung của tiểu thuyết thông thường.

Ta cần làm rõ vấn đề: một nhà triết học không nhất thiết phải kiên quyết đi theo một tư tưởng duy nhất, bên trong tư duy con người có thể luôn có sự giằng xé giữa hai luồng tư tưởng đối lập, ví như Diderot, ông bị giằng xé giữa duy vật và duy tâm. Ông hay lựa chọn duy vật cho triết học, và có phần duy tâm dành cho tiểu thuyết.

Phép biện chứng trong tiểu thuyết Diderot

Jaques – Kẻ Theo Thuyết Thiên Mệnh Và Chủ Nhân Của Hắn (Jacques le fataliste et son maître): phép biện chứng của chân thực và hư cấu

Jaques là kẻ theo thuyết thiên mệnh, cho rằng số mệnh đã được an bài từ trước. Cuốn tiểu thuyết là hành trình của Jaques và người chủ của mình. Tuy vậy, tình tiết câu chuyện bị cắt vụn bởi những đoạn nghị luận của chính tác giả. Những đoạn nghị luận nhiều đến nỗi, đến tận cuối truyện, Jaques vẫn không kể xong nổi thiên tình sử của mình, và thực ra độc giả rất khó để tìm ra cái mạch lạc bên trong cốt truyện.

Ví dụ, đoạn Jaques bị đưa lên giá treo cổ. Tác giả thêm một đoạn nghị luận dài, đại ý rằng: những tiểu thuyết thông thường chắc chắn sẽ đặt một người khác ở cái giá treo cổ bên cạnh, và Jaques sẽ bắt đầu một cuộc đối thoại sầu thảm với người đồng cảnh ngộ kia, nhưng sự thật là chẳng có ai nữa cả, và tôi sẽ không cho Jaques có thêm người đối thoại đâu, tôi không làm theo những nhà tiểu thuyết khác, tôi sẽ chỉ kể sự thật.

Những đoạn nghị luận tương tự xuất hiện rất nhiều, đặc điểm chung là nói rằng, đáng ra trong tình huống này thì các nhà tiểu thuyết thông thường sẽ viết thế này, nhưng tôi thì không, tôi chỉ kể sự thật, nên sẽ không có những thứ đó. Diderot liên tục nhấn mạnh về chuyện “tôi chỉ kể sự thật”. Có điều, chính vì liên tục nhấn mạnh điều đó, nên ai cũng hoài nghi: một người chỉ kể lại sự thật có cần thiết phải liên tục khẳng định mình đang kể sự thật hay không? Rõ ràng, đây vẫn chỉ là câu chuyện được hư cấu ra mà thôi. “Sự thật” ở đây là một sự thật được hư cấu, khẳng định chuyện hư cấu là sự thật, Diderot đã làm mờ đi ranh giới giữa hai thứ đó.

Người Cháu Của Rameau (Le Neveu de Rameau): phép biện chứng thiện và ác

Tiểu thuyết này là một điển hình của “thần kinh phân liệt”. Bộ tiểu thuyết là cuộc đối thoại giữa người cháu của Rameau – một tên lưu manh xuất sắc, với nhân vật “tôi” – một nhà triết học. Bối cảnh của câu chuyện cũng rất mơ hồ, không có tình tiết gì mấy, chỉ là một cuộc đối thoại rất dài. Cháu của Rameau vốn là một kẻ có sự trộn lẫn kì quặc giữa thiện và ác. Gã là một tên lưu manh, một kẻ bịp bợm, nhưng hết sức thông minh, mỗi câu đối thoại với nhà triết học, nghe có vẻ “lưu manh” nhưng lại đầy lí lẽ, và đầy cả tính triết lí nữa. Các nhà triết học luôn nghĩ đến một Utopia (thế giới đại đồng) rất hoàn hảo (như Phật giáo nói đến cõi Niết Bàn, Marx nói đến chủ nghĩa cộng sản), mong muốn con người phấn đấu đạt đến thế giới đó. Gã lưu manh sổ toẹt thế giới hoàn mĩ đó: đối với gã, một thế giới hoàn mĩ cần có sự tồn tại của gã, nếu không thì nó thật vô nghĩa! Đúng quá, đó chính là quan điểm của chủ nghĩa tồn tại: mọi thứ chỉ có ý nghĩa khi tồn tại chủ thể lí giải ý nghĩa của nó.

Gã kể lể những chuyện xấu xa của gã làm, nhưng sau đó lại nói, gã hi vọng đứa con của mình sau này trở thành người tốt, không làm một kẻ lưu manh. Tuy nhiên, nếu nó nhất quyết lựa chọn con đường lưu manh, thì gã cũng đành chịu! Gã biết rõ, đâu là thiện, đâu là ác. Chẳng qua, biết rõ nhưng gã vẫn lựa chọn phần “ác” để làm mà thôi. Gã thậm chí biết rõ các triết thuyết, và tìm mọi cách đả phá triết học.

Nữ Tu Sĩ (La Religieuse): phép biện chứng của tiểu thuyết và cuộc sống

Tiểu thuyết này bắt nguồn từ một trò đùa của Diderot với hầu tước Croismare, để lừa Croismare về Paris. Diderot giả làm một nữ tu sĩ trẻ tuổi tên là Suzanne viết thư cho hầu tước Croismare để nhờ giúp đỡ, và gửi thư thông qua một người bạn khác để tránh hầu tước Croismare phát hiện. Mãi sau này, khi được xem lại toàn bộ thư, hầu tước Croismare mới nhận ra đó là trò đùa của bạn mình. Sau đó Diderot quyết định đem câu chuyện này làm nguyên liệu để viết thành tiểu thuyết Nữ Tu Sĩ.

Như vậy, tiểu thuyết này được viết dựa trên một sự kiện có thật. Nhưng sự kiện có thật đó xảy ra lại do Diderot hư cấu nên câu chuyện về nữ tu sĩ để trêu đùa hầu tước Croismare. Không chỉ có tiểu thuyết bắt nguồn từ cuộc sống, mà đôi khi chính cuộc sống lại bị thay đổi bởi tiểu thuyết.

 

Kết

Tiểu thuyết của Diderot mang phép biện chứng, nhưng chứa đựng đầy mâu thuẫn như chính con người ông. Dù ông ca ngợi tính chân thực trong tiểu thuyết của S.Richardson, nhưng tiểu thuyết của ông lại thể hiện ngược lại: đẩy nghị luận lên cao hơn tình tiết. Ông đã cho thấy tiểu thuyết có một thứ mà triết học không có: tính bất định.

Có thể đối với thời nay, đọc tiểu thuyết là một thói quen có phần xa xỉ, ít khi thấy người ta cầm một cuốn tiểu thuyết dày để đọc. Ngành khoa học xã hội dường như cũng không hề bồi dưỡng hứng thú đọc tiểu thuyết cho người học. Nhưng khi khoa học đã phát triển quá nhanh, khi triết học lí trí đã lên đến cực đoan, thì tính bất định của tiểu thuyết lại là thứ kéo được con người ra khỏi sự kìm kẹp của “tái phong kiến hóa”, thoát khỏi sự lệ thuộc vào vật chất và công nghệ, đạt được trạng thái tự do và giải phóng cao hơn.