Nguồn gốc tên các nhân vật trong truyện của Kim Dung

(Lê Huy Hoàng sưu tầm và lược dịch)

Mở đầu: Truyện võ hiệp của Kim Dung, mọi người đã đọc nhiều, xem nhiều (phim), nhưng không hẳn ai cũng rõ nguồn gốc những tên nhân vật đó từ đâu ra. Bài này sưu tầm trên mạng, cũng mới chỉ là ý kiến cá nhân, không phải ý kiến giải thích của chính Kim Dung, nay lược dịch ra đây, chưa chắc đúng hẳn, nhưng cũng là một cách để tìm hiểu điển tích điển cố Trung Hoa, hoặc giả “mua vui cũng được một vài trống canh”.

 

 

 

 

A Châu (Lưu Đào đóng)

 

 

 

I, A Châu, A Tử (Thiên Long Bát Bộ): 2 chị em là con của Đoàn Chính Thuần và Nguyễn Tinh Trúc, từ nhỏ đã chia lìa nhau, A Châu làm nô tì cho nhà Mộ Dung, còn A Tử thì là “học trò hư” của Tinh Tú lão quái; tuy cùng một mẹ sinh ra mà tính cách khác hẳn nhau. Châu (Chu)朱: màu đỏ, Tử紫: màu tía. Tên lấy từ sách Luận Ngữ. Thiên “Dương Hóa” sách Luận Ngữ《論語·陽貨》 có viết: Ố tử chi đoạt chu dã!惡紫之奪朱也 (Ghét màu tía hung ác lấn át màu đỏ). Hà Yến tập giải何晏集解 viết: chu, chính sắc. Tử, gian sắc chi hiếu giả. Ố kì tà hiếu dĩ loạn chính sắc.朱,正色。紫,間色之好者。惡其邪好以亂正色。 (Đỏ là sắc chính, tử là chỉ kẻ thích sắc màu trung gian. Ghét cái sở thích tà ác làm loạn cả sắc màu chính).

Sau người ta dùng “chu tử” để nói sự lấy cái tà làm loạn cái chính, hoặc tốt xấu lẫn lộn. Thiên “Trần Nguyên truyện” trong “Hậu Hán thư”《後漢書·陳元傳》 chép: phù minh giả độc kiến, bất hoặc ư chu tử.夫明者獨見,不惑於朱紫。 (Này, kẻ sáng suốt có kiến giải của riêng mình, không lẫn lộn tốt xấu). Lại dùng để nói về nhân phẩm cao thấp khác nhau. Sách Quảng Tuyệt Giao Luận của Lưu Tuấn劉峻《廣絕交論》 có chép: thư hoàng xuất kì thần vẫn, chu tử do kì đảm.雌黃出其唇吻,朱紫由其膽 (sự chê bai bắt đầu từ miệng lưỡi, mà nhân phẩm cao thấp là từ gan mật mà ra).

Kim Dung dùng chu (châu) tử để đặt tên 2 nhân vật, có thể thấy rõ sự yêu ghét vậy!

[Phụ] Kiều Phong喬峰: Kiều Phong tên thực là Tiêu Phong蕭峰. Họ Kiều là họ của cha nuôi Kiều Tam Hòe. Chữ Kiều ám chỉ không phải họ thật, “kiều” là giả trang. Còn chữ Phong (đỉnh núi) là muốn nối tiếp tên của cha đẻ Viễn Sơn遠山.

II, Đinh Điển, Lăng Sương Hoa (Liên Thành Quyết): (lược bỏ)

 

 

 

 

Dương Quá (Hoàng Hiểu Minh đóng)

 

 

 

III, Dương Quá, Tiểu Long Nữ (Thần Điêu Hiệp Lữ – Việt Nam dịch là “thần điêu đại hiệp”): Dương Quá楊過, tự là Cải Chi改之, tên do Quách Tĩnh đặt. Quá là lỗi lầm, Cải là sửa chữa, ý nói có lỗi phải sửa. Thiên “Tuyên Công nhị nhiên” sách Tả Truyện 《左傳·宣公二年》chép: Nhân thùy vô quá? Quá nhi năng cải, thiện mạc đại yên.人誰無過?過而能改,善莫大焉。 (Ai người không có lỗi lầm? Có lỗi mà có thể sửa, chẳng gì tốt đẹp bằng). Đời Tống lại có nhà thơ Lưu Quá, tự cũng là Cải Chi, không biết liệu Kim Dung có mượn tên chăng?

Long Nữ龍女, là con gái Long Vương trong truyện thần thoại. Có thể Tiểu Long Nữ trong truyện Thần Điêu được lấy ý tưởng từ nhân vật nữ thần trong chương Tiêu Dao Du, sách Trang Tử《莊子·逍遙遊》.

IV, Lệnh Hồ Xung令狐沖, Nhiệm Doanh Doanh任盈盈 (Tiếu Ngạo Giang Hồ): Xung, ý nói trống rỗng, Doanh, lại có nghĩa là đầy, 2 cái tên nói lên sự khác biệt tính cách. Sách Lão Tử老子 chương 45 có nói: Đại doanh nhược xung, kì dụng bất cùng.大盈若沖,其用不窮 (Đầy mà như vơi, thì dùng mãi chẳng hết), tức là ý nói cái đầy và cái vơi đi liền với nhau, thống nhất với nhau. Nhân vật Chu Bá Thông trong Anh Hùng Xạ Điêu cũng có nói câu này, chứng tỏ khả năng Kim Dung dựa vào sách Lão Tử để đặt tên 2 nhân vật trên là rất lớn. Hoặc cũng có người cho rằng, Nhiệm Doanh Doanh lấy ý từ sách Cổ Thi Thập Cửu Thủ古詩十九首, sách có câu “Doanh doanh lâu thượng nữ”盈盈樓上女.

Bổ sung: Sách Lão Tử lại nói: đạo xung nhi dụng chi, hoặc bất doanh, uyên hề tự vạn vật chi tông.道沖而用之,或不盈,淵兮似萬物之宗 (Đạo, vơi thì dùng, tuy không đầy mà sâu sắc như cái gốc của vạn vật).

Lời bàn thêm của người dịch: Lệnh Hồ Xung tên là Xung (vơi), mà phần lớn thời gian xuất hiện trong truyện đều ở trạng thái bị mất nội công, cuối cùng lại luyện công phu Hấp Tinh Đại Pháp, ngược hẳn với võ công bình thường (đan điền trống rỗng không tụ khí). Càng thấy cái tên Lệnh Hồ Xung thật là đặc biệt.

V, Văn Thái Lai (Thư Kiếm Ân Cừu Lục): Là nhân vật gặp nhiều trắc trở sóng gió, cuối cùng đúng là “Bĩ cực thái lai”否極泰來. Văn Thái Lai文泰來 có ngoại hiệu là Bôn Lôi Thủ奔雷手, ý chỉ ra đòn rất nhanh mạnh. Tân Khí Tật đời Tống宋辛棄疾 trong bài “Thẩm Viên Xuân”沁園春 có câu “Khí tự bôn lôi”氣似奔雷. Thái, là tên quẻ, trên là quẻ Khôn dưới là que Càn (địa thiên thái), là quẻ tốt. Ngược lại, trên càn dưới khôn là quẻ Bĩ, quẻ xấu, nên có câu Bĩ cực thái lai là vì thế.

VI, Càn khôn ngũ tuyệt – nam đế, bắc cái, đông tà, tây độc, trung thần thông (Anh Hùng Xạ Điêu):

1. Nam đế南帝: Nam đế là Nhất Đăng Đại Sư一燈大師. Nam thuộc Hỏa, nên mới là Nhất Đăng. Nhất Đăng lại lấy ý từ kinh Pháp Hoa法華經: dĩ nhất đăng truyền chư đăng, chung chí vạn đăng giai minh以一燈傳諸燈,終至萬燈皆明 (lấy một ngọn đèn truyền cho nhiều ngọn đèn, cuối cùng muôn đèn đều rạng). Mà tuyệt chiêu của Nhất Đăng Đại Sư lại chính là Nhất Dương Chỉ – Dương tức là mặt trời, thuộc hỏa.

2. Bắc cái北丐: Bắc thuộc Thủy, nên Bắc cái là Hồng Thất Công洪七公, Hồng洪 là nước lớn. Phương Bắc thuộc Thủy, chủ màu đen, tuy trong truyện không miêu tả Hồng Thất Công mặc áo màu gì, nhưng đã là ăn mày thì màu gì rồi cũng thành đen.

3. Đông tà東邪: Đông thuộc Mộc, chủ màu xanh. Đông tà là Hoàng Dược Sư黃藥師, chữ Dược藥 có bộ Mộc木. Đông tà cũng xuất hiện với chiếc áo xanh trên người. Kim Dung rất sùng kính danh tướng Lý Tịnh đời Đường唐李靖, mà Lý Tịnh có tên chữ là Dược Sư, rất có thể Kim Dung đã xây dựng nhân vật Đông tà Hoàng Dược Sư từ cảm hứng này.

4. Tây độc西毒: Tây thuộc Kim, Tây độc là Âu Dương Phong歐陽鋒, chữ Phong鋒 lại có bộ kim金. Tây độc lại có một cây đàn tranh bằng sắt, cũng thuộc kim. Âu Dương Phong có độc chiêu Cáp Mô Công, khắc tinh của võ công này là Nhất Dương Chỉ, ám chỉ hỏa khắc kim theo đúng quy luật ngũ hành tương khắc.

5. Trung thần thông中神通: Trung ương thuộc Thổ, màu vàng. Trung thần thông Vương Trùng Dương王重陽, tên gốc là Vương Triết王喆. 2 chữ Vương và Triết tổng cộng có tới 3 bộ thổ土. Vương Trùng Dương là đạo sĩ, mà đạo sĩ vẫn dùng mũ vàng. Sau này “thần thông” được thay bằng “ngoan đồng” Chu Bá Thông周伯通. Chữ Chu周 vẫn có bộ thổ!

(Xem tiếp trang sau…)