Add Me!Close Menu Navigation

Blog cá nhân của Mặc Sinh Lê Huy Hoàng trên Thư Họa Việt Nam

Add Me!Open Categories Menu

Nguồn gốc tên các nhân vật trong truyện của Kim Dung

VII, Lâm Bình Chi (Tiếu Ngạo Giang Hồ), Du Thản Chi (Thiên Long Bát Bộ): Lâm Bình Chi林平之 là công tử của tiêu cục Phúc Uy, Du Thản Chi遊坦之 là công tử ở Tụ Hiền Trang. Ấy vậy mà cuộc đời cả 2 đều trắc trở đau khổ, cuối cùng là cái chết đau đớn, chẳng hề “bình thản” chút nào!

VIII, Võ Tu Văn武修文, Võ Đôn Nho武敦儒 (Thần Điêu Đại Hiệp): 2 con của Võ Tam Thông. Tu Văn là sửa việc văn học, Đôn Nho là đôn hậu nho nhã (thiết nghĩ từ ngữ dễ hiểu, tuy có dùng điển cố nhưng cũng không cần giải thích ở đây làm gì nữa – LHH). Vậy mà cả 2 đều chỉ chăm lo võ học (mặc dù võ công bình thường). Cũng là 1 cách “nói ngược” của Kim Dung như trường hợp Bình Chi, Thản Chi vậy!

Chú thêm của người dịch: nhân bàn về nói ngược, thì trong truyện Kim Dung cũng có khá nhiều nhân vật có ngoại hiệu mĩ miều mà võ công thì chẳng lấy gì làm thâm hậu, ví như Thiết Chưởng Thủy Thượng Phiêu chẳng hạn. Đó cũng là một cách trào phúng.

 

 

 

 

Viên Thừa Chí (Đậu Trí Khổng) và Ôn Thanh Thanh (Hoàng Thánh Y)

 

 

 

IX, Hạ Tuyết Nghi, Ôn Thanh Thanh (Bích Huyết Kiếm): Hạ Tuyết Nghi夏雪宜 là Kim Xà Lang Quân金蛇郎君, cha của Ôn Thanh Thanh溫青青. Đã là mùa hè (Hạ) lại có Tuyết, thì chẳng thích hợp (Nghi) chút nào! Ôn là ấm, Thanh青 là mượn chữ Thanh清 là mát, cũng là đối lập. Thiên Khúc Lễ Thượng của sách Lễ Kí《禮記·曲禮上》 chép: phàm vi nhân chi lễ, đông ôn nhi hạ thanh凡為人之禮,冬溫而夏清 (phàm cái lễ nghi làm người, là như ấm vào mùa đông, mát vào mùa hè). Cái tên vừa nói về cuộc đời trắc trở, vừa nói về tính cách mâu thuẫn của cả 2 cha con. Hạ Tuyết Nghi vừa tàn bạo lạnh lùng, vừa chung tình sâu sắc. Ôn Thanh Thanh vừa ngang bướng vừa là người đau khổ.

Phụ: Viên Thừa Chí袁承志: Thừa Chí là nối tiếp chí hướng, ý muốn nối tiếp chí hướng của cha là Viên Sùng Hoán. Tuy nhiên Viên Thừa Chí tuy có võ công cao cường, nhưng sau cùng không theo nghiệp tướng mà quy ẩn giang hồ.

X, Tiêu Dao phái (Thiên Long Bát Bộ):

1. Chưởng môn nhân Vô Nhai Tử無崖子: tên lấy từ thiên Dưỡng Sinh Chủ, sách Trang Tử《莊子·養生主》: ngô sinh nhi hữu nhai, nhi tri dã vô nhai. 吾生而有涯,而知也無涯(Cuộc đời ta có bờ bến, mà kiến thức thì vô bờ bến).

2. Thiên Sơn Đồng Lão天山童姥: Đồng Lão là chỉ người đã già nhưng tướng mạo như trẻ con. Võ công của Thiên Sơn Đồng Lão có lẽ lấy cảm hứng từ Phật giáo, cụ thể là từ Thích Ca Mâu Ni (nên có Bát Hoang Lục Hợp Duy Ngã Độc Tôn). Còn Lý Thu Thủy李秋水 thì lấy tên theo chương Thu Thủy, sách Lão Tử《老子·秋水》.

3. Vô Nhai Tử có hai sư đệ là Tô Tinh Hà蘇星河 và Đinh Xuân Thu丁春秋. Trong đạo Lão, “tinh hà” là sự vô bờ bến về mặt không gian, “xuân thu” là sự vô bờ bến về mặt thời gian.

(lược từ XI đến XVI)

XVII, Nhạc Bất Quần (Tiếu Ngạo Giang Hồ): cùng với Trác Bất Phàm卓不凡, đều lấy ý từ câu “Trác nhĩ bất quần”卓爾不群 (vượt lên tất cả mọi người) trong Hán Thư漢書. Nhưng thiên Dương Hóa sách Luận Ngữ《論語·陽貨》 nói: quân tử quần nhi bất đảng, tiểu nhân đảng nhi bất quần君子群而不黨,小人黨而不群 (quân tử tụ họp mà không kết bè, tiểu nhân kết bè mà không tụ họp). “Bất quần” là nói về tiểu nhân vậy, trớ trêu thay, Nhạc Bất Quần lại được gọi là “quân tử kiếm”. Quả nhiên đến cuối truyện đã lộ bản chất tiểu nhân!

Nói thêm một chút: chữ “quần”群 gồm Quân君 và Dương羊 ghép lại. Sau khi đã bỏ đi cái lốt dê cừu (Dương) hiền lành, thì còn lại là Bất Quân, chẳng phải quân tử gì!

(lược XVIII, XIX, XX)

XXI, Hướng Vấn Thiên (Tiếu Ngạo Giang Hồ): Tên này rất hay, vừa có cái ngây thơ của Lí Bạch trong “thanh thiên minh nguyệt lai kỉ thời, ngã kim đình bôi nhất vấn chi” (Trăng sáng trời xanh tới lúc nào, ta nay dừng chén để hỏi thăm), vừa có cái nhàn hạ của Tô Thức trong “Minh nguyệt kỉ thời hữu, bả tửu vấn thanh thiên”. Nhưng có lẽ cái tên này có gốc từ bài “Thiên Vấn” của Khuất Nguyên. Mà Hướng Vấn Thiên向問天 với Khuất Nguyên, đều có cái ngu trung gần giống nhau!

(lược đến XXVIII)

XXIX, Mộ Dung Phục慕容複 (Thiên Long Bát Bộ): Người ta vẫn gọi Bắc Kiều Phong, Nam Mộ Dung. Mộ Dung không phải họ người Hán, mà là họ của tộc Tiên Ti. Cái tên Phục là do Mộ Dung Bác (cha của Mộ Dung Phục) đặt cho, với mong muốn hắn có thể khôi phục Đại Yên. Ngờ rằng Kim Dung viết về Mộ Dung Phục có ý ám chỉ 2 người con của Tưởng Giới Thạch là Tưởng Trung Chính, Tưởng Kinh Quốc, vì thời kì viết Thiên Long Bát Bộ (1963-1966) chính là giai đoạn họ Tưởng liên tiếp kêu gọi “phản cộng phục quốc”! Mà kết cục của Mộ Dung Phục thì đúng là “Vận di Yên tộ chung nan phục” (vận hết ở nước Yên, cuối cùng khó lòng khôi phục đất nước).

(lược đến XXXIV)

XXXV, Hồ Nhất Đao (Tuyết Sơn Phi Hồ): có 2 giả thiết, thứ nhất là Hồ Nhất Đao胡一刀 chỉ “chém bừa một đao”, tính cách rất thẳng thắn mạnh mẽ, đúng là tính cách của du hiệp phương bắc; thứ hai, chữ “hồ” trong văn cổ là từ dùng để hỏi, ý hỏi rằng “vì sao không cho một đao?”, cuộc đời phức tạp, giá như một đao có thể xóa bỏ bất bình trong thiên hạ thì hay biết mấy! Dù giải thích thế nào, thì cái tên “Nhất Đao” quả là vừa đúng với vũ khí (đại đao), vừa đúng với võ công (Hồ gia đao pháp), vừa đúng với con người.

Phụ: Hồ Phỉ胡斐: Phỉ là đẹp, dùng làm tên người không có gì lạ. Có lẽ Kim Dung nghĩ đến 2 chữ “phi hồ” trước, rồi đặt ngược lại tên cho nhân vật chính trong truyện là Hồ Phỉ.

XXXVI, Miêu Nhân Phượng (Tuyết Sơn Phi Hồ) và Lam Phượng Hoàng (Tiếu Ngạo Giang Hồ): Lam Phượng Hoàng藍鳳凰 là người Miêu (tức dân tộc H’mông – LHH), người Miêu có truyền thống tôn thờ phượng hoàng. Lam Phượng Hoàng thì không nói làm gì, nhưng còn Miêu Nhân Phượng苗人鳳? Vừa hay, ông họ Miêu! Nhân Phượng là muốn chỉ “rồng phượng ở chốn nhân gian”. Miêu Nhân Phượng ngược lại với Hồ Nhất Đao, kể từ cả cái họ trở đi. Miêu là dân tộc ở miền nam, Miêu Nhân Phượng có tính cách đặc trưng của người miền nam Trung Hoa; Hồ lại là dân tộc ở miền Bắc, Hồ Nhất Đao có tính cách rất đặc trưng của du hiệp miền bắc. Vũ khí của 2 người cũng rất tượng trưng cho tính cách (kiếm và đao). Miêu Nhân Phượng không thấy nói là dân tộc gì, nhưng rõ ràng cái tên này có quan hệ rất mật thiết với dân tộc Miêu.

Lại nói Kim Dung và dân tộc Miêu có quan hệ gì. Kim Dung chịu ảnh hưởng rất lớn của nhà văn người Miêu là Thẩm Tòng Văn, đồng thời có giao lưu rất nhiều với cháu họ của Thẩm là Hoàng Vĩnh Ngọc. Kim Dung cũng từng ở vùng của người Miêu.

(lược phần cuối)

VN:F [1.9.17_1161]
Rating: 6.1/10 (11 votes cast)
Nguồn gốc tên các nhân vật trong truyện của Kim Dung, 6.1 out of 10 based on 11 ratings

Có thể bạn cũng muốn xem

Tác giả: Lê Huy Hoàng

4 phản hồi to “Nguồn gốc tên các nhân vật trong truyện của Kim Dung”

  1. YeuHost nói:

    Em phục bác rồi :-s

    • Lê Huy Hoàng nói:

      Sưu tầm thôi mà ku!

    • Bùi Chưởng nói:

      Ca cứ nói quá! Thiết chưởng thủy thượng phiêu Cừu Thiên Nhận làm gì đến nỗi võ công không cao cường! Một thân công phu thiết chưởng thì khỏi bàn – oánh phát Hoàng Dung tí về trời, về sau chẳng đã đấu khinh công với Tiểu Long Nữ đó sao (Thần Điêu Hiệp Lữ). Chẳng qua ông giời (Kim Dung) phang xuống một thiên lôi (Chu Bá Thông) ác quá! Lại còn cho một lão lừa trọc (Nhất Đăng) đàn áp. Tuy tâm ý Cừu Thiên Nhận bất chính dưng cuối đời cũng được nhắm mắt, chính là ý phóng hạ đồ đao lập địa thành Phật chăng?

Gửi ý kiến




Email
Print
WP Socializer Aakash Web