Thuyết “thư cưu”

Quan quan thư cưu, Tại hà chi châu. Yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu.

關關雎鳩,在河之洲。窈窕淑女,君子好逑。

(trích thơ “quan thư”, thuộc phần “Nam phong”, sách Kinh Thi)

Đây là bài thơ đầu tiên trong Kinh Thi, là một bài thơ tình, kể về nỗi nhớ nhung của chàng trai với cô gái khi chàng ra bờ sông, hái rau hạnh, thấy chim thư cưu đang kêu tại bãi giữa sông. Với người học Hán, chắc không còn xa lạ. Bài thơ tuy đơn giản, chất phác, nhưng những khái niệm sự vật được nhắc đến e rằng cũng đã cách xa chúng ta mấy ngàn năm, không dễ gì mường tượng chính xác được, dẫn đến nhiều cuộc tranh luận không dứt, trong đó “thư cưu” là chim gì là một chủ đề dường như bất tận. Đời sau chú thích Kinh Thi, mỗi người một ý, thực không dễ để hiểu cho chính xác.

Chú giải tương đối sớm có “Mao thi cố huấn truyện”毛詩故訓傳 đời Tây Hán: 雎鳩,王雎也,鳥摯而有別。(thư cưu, là chim vương thư, (đôi) chim sống hết đời với nhau nhưng biết tách biệt) Chú thích này e rằng chỉ cho ta biết đại loại thư cưu là loại chim sống thành đôi gắn bó với nhau, nhưng rất biết giữ lễ (hữu biệt), mà không biết chính xác là loại chim gì. Thiên “Thích điểu”, sách Nhĩ Nhã爾雅·釋鳥 đại loại cũng chỉ nói đến vậy.

Sách “Thi Kinh tập truyện”詩經集傳 của Chu Hi (Tống)宋朱熹 giải thích: 水鳥也,狀類鳧鷗,今江淮間有之。(là chim nước, hình dáng như chim phục, chim âu, nay có ở khoảng vùng Giang Hoài). “Phục” là loài giống vịt, “âu” là loài chim nước, theo cách giải thích của Chu Hi thì đại loại thư cưu là một loài thủy cầm. Chu Hi về cơ bản cũng mô tả tập tính sinh sống thành đôi như “Mao thi”.

Sách “Mao thi chính nghĩa”毛詩正義 của Khổng Dĩnh Đạt (Đường)唐孔穎達 dẫn lại chú “Nhĩ Nhã” của Quách Phác郭璞《爾雅注》 viết: 雕類也,今江東呼之為鶚 (một loại chim điêu, nay vùng Giang Đông gọi là “ngạc”). “Ngạc” là chim ó cá, tên khoa học là Pandion haliaetus, thuộc chi Ó Cá, khá to lớn, sải cánh dài 1m80.

Sách “Cầm Kinh”禽經 (cựu bản ghi là Sư Khoáng師曠 (thời Xuân Thu) soạn, Trương Hoa張華 (đời Tấn) chú, nhưng qua khảo chứng cho thấy nhiều điểm đáng ngờ, e là học giả cuối đời Nam Tống ngụy tạo) đã có nói rõ: 王雎,雎鳩,魚鷹也。(vương thư, hay thư cưu, là “ngư ưng” vậy). “ngạc” chính là một loại “ngư ưng” (ó cá).

chim "ngạc" (ó cá)
chim “ngạc” (ó cá)

Cách hiểu này hiện được khá nhiều người chấp nhận. Ví dụ trong “Mao thi phẩm vật đồ khảo” của tác giả người Nhật vẽ hình thư cưu chính là con chim ó. Vậy con ó cá liên quan gì đến tình cảm nam nữ? Ó cá nhìn chung có tập tính của họ chim ưng, không phải loài sống thành đôi suốt đời, nhưng chim đến mùa giao phối chim trống bắt cá cho chim mái, vậy thấy chim trống bắt cá liên tưởng đến muôn vật kết đôi mà nhớ nhung cô gái cũng không phải điều bất hợp lí.

Về sau có học giả cho thư cưu là đại nhạn (Lạc Tân Cơ), có người cho là loài chích sậy (Hồ Diểu), những phỏng đoán này đều xuất phát từ suy nghĩ có lẽ ó cá là loài chim dữ, không thích hợp để nói về tình cảm nam nữ, tuy nhiên lại không có cơ sở về mặt sinh học.

Học giả Đài Loan Trương Chi Kiệt張之杰 cho rằng thư cưu không phải là ó cá, vì ó cá là loài di trú, tiếng kêu sắc lạnh dữ dội, cũng không ở ngoài bãi sông kêu gọi bạn tình vì thường làm tổ trên cao, đồng thời cho rằng bài “Quan thư” thuộc về “Chu Nam”, tức là dân ca vùng tây nam của tỉnh Hà Nam và phía bắc của tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc, vùng này không có ó cá. Trương Chi Kiệt cho rằng thư cưu là loài chim cuốc ngực trắng, bởi tập tính sinh hoạt tương đối giống với mô tả trong các sách chú thích Kinh Thi.

Tuy vậy, ý kiến của Trương Chi Kiệt cũng có vài điểm đáng bàn. Đầu tiên, các học giả cho rằng ó cá không thích hợp để nói về tình cảm nam nữ, đó là với tư duy tri nhận của người hiện tại, không chắc người thời xưa đã cảm thụ như thế. Thứ hai, ó cá tuy có di trú, nhưng là di trú không hoàn toàn, tức là vẫn có thể không di trú. Ó cá có phân bố ở phía nam Trung Hoa, mấy ngàn năm trước có sống ở khu vực Chu Nam hay không, cần đợi kiểm chứng, chưa chắc đã kết luận ngay được.

Cuối cùng, chú thích là ó cá đã có từ rất sớm, có Quách Bộc (Tây Tấn) chú sách Nhĩ Nhã, Khổng Dĩnh Đạt (Đường) dẫn lại. Sách Cầm Kinh nếu muộn thì cuối Nam Tống, duy có Chu Hi không cho là giống ó cá. Nhưng Chu Hi chú giải Kinh Thi cũng có nhiều điều cần xem xét lại, vì Lí học thời Tống cố tình chú giải theo quan điểm đạo đức, nên gán với một loài chim hiền hòa hơn có thể cũng do cố tình. Những học giả đời trước chú giải, có lẽ đáng tin cậy hơn.

Tóm lại, bài thơ thuộc thể “hứng”, lấy hình tượng loài chim bên bãi sông để khơi gợi thi hứng, gợi ra nỗi nhớ nhung của chàng trai dành cho cô gái, nỗi mong nhớ đêm ngày “ngụ mị tư bặc”, dù thư cưu là loài chim hiền hòa như cuốc, hay dữ dội như ó cá, tư tưởng của bài thơ vẫn là một: một tình cảm chân thành, nỗi nhớ giản đơn mà da diết, như Khổng Tử từng nhận xét cho chính bài này: buồn mà không bi lụy, vui mà không quá đà 哀而不傷,樂而不淫. Khổng Tử rõ nhất chăng?